Sơ lược về Kinh tế học Tiến hoá, Kinh tế học Hành vi, và Kinh tế học phức hợp: Những luồng gió phi chính thống mới – Lê Anh Khánh Minh

heterodoxecon

Giữa lúc Kinh tế học chính thống vẫn còn đang thống trị, kể từ thế kỷ XIX, Karl Marx và Thorstein Veblen đã là những người tiên phong trong việc thách thức những tư tưởng của Kinh tế học chính thống. Xuyên suốt hơn 150 năm, trải qua bao sự kiện lịch sử, kinh tế và khoa học, Kinh tế học chính thống vẫn tiếp tục thịnh hành , nhưng đã ít nhiều xuất hiện những lời phê bình về tính đơn giản hoá thực tế của nó. Trong khi đó, những trường phái mới hơn, phi chính thống, cố gắng đưa ra những quan sát, phân tích xác thực hơn với thực tế, đang dần tìm được vị thế của mình. Thông qua bài viết này, tác giả muốn giới thiệu sơ lược tới bạn đọc về ba nhánh Kinh tế học tiến hoá, Kinh tế học hành vi và Kinh tế học phức hợp để cung cấp một cái nhìn tổng quan về cách các trường phái phi chính thống tiếp cận với phân tích kinh tế.

I. Giới thiệu

Trong ấn phẩm “Thế giới mới phức hợp – Diễn dịch tư tưởng kinh tế học mới vào chính sách công”[1] của Viện Nghiên cứu Chính sách công IPPR[2] ở Anh, nhà kinh tế học John Kay, trong lời mở đầu của ấn phẩm, đã khẳng định rằng, Kinh tế học phức hợp (complexity economics), Kinh tế học tiến hoá (evolutionary economics) và Kinh tế học hành vi (behavioural economics) là những lĩnh vực mới nổi, đồng thời cũng là tương lai của môn Khoa học Kinh tế. Khi thế giới trở nên hỗn mang (chaotic), bất trắc (uncertain), và biến động (turbulent), được đặc trưng bởi các rủi ro (risk) và khủng hoảng (crisis) tiềm ẩn đâu đó trong nền kinh tế, các lý thuyết kinh tế truyền thống (mainstream, orthodox) có vẻ thất thế trong việc giải thích và dự đoán hành vi con người và chuyển động của nền kinh tế. Thật khó để công nhận trong thực tế rằng con người luôn hành động hoàn toàn vị kỷ và lý tính, có đủ mọi thông tin và có khả năng tính toán chi phí – lợi ích một cách chính xác để đưa ra các quyết định nhằm tối đa hoá phúc lợi của mình. Trái lại, chúng ta là những sinh vật cảm tính và vị nhân ở một mức độ nào đó và tuỳ theo ngữ cảnh; không phải lúc nào ta cũng có đầy đủ thông tin – đôi khi cái giá người ta phải bỏ ra để sở hữu thông tin là rất đắt, như giá dịch vụ nghiên cứu thị trường hay thời gian bỏ ra để học đại học; đồng thời, ta cũng không xuất sắc trong việc tính toán lợi ích – chi phí của mỗi hành vi ta làm, nhất là khi các lợi ích và chi phí này tiềm ẩn hoặc chỉ được hiện thực hoá sau một thời gian nhất định, như khi ta quyết định có nên dành thời gian ăn kiêng – tập thể dục, bỏ thuốc lá, hay khấu trừ một phần thu nhập để tiết kiệm cho mai sau.

Chính bởi tính phức tạp và khó dự đoán của hành vi con người mà các luồng tư tưởng truyền thống trong kinh tế học ngày nay thu hút nhiều sự quan tâm và tranh luận về tính ứng dụng của nó trong việc giải thích hành vi con người. Từ đây, nhiều trường phái mới phát sinh và tạo thành bộ phận tư tưởng mới được gọi dưới những cái tên như “phi truyền thống” (heterodox) hay “tư tưởng kinh tế mới” (new economic thinking). Trong ấn phẩm “Thế giới mới phức hợp”, kinh tế học phi truyền thống bao gồm nhiều nhánh khác nhau, có thể kể đến như Kinh tế học phức hợp (complexity economics), Kinh tế học tiến hoá (evolutionary economics), Kinh tế học thể chế (institutional economics), Kinh tế học nhiệt năng (thermoeconomics), Kinh tế học sinh thái (ecological economics), cùng nhiều nhánh khác. Tựu chung lại, chúng đều có hai kết luận chung nhất: một, các chuyển động tầm vĩ mô không đơn giản là sự cộng gộp tất cả các chuyển động ở tầm vi mô; khi phân tích một nền kinh tế, phải xem xét chủ thể đơn lẻ và cả những tương tác giữa chúng trong mạng lưới; hai, kinh tế học phi truyền thống không giả định một trạng thái cân bằng tĩnh; thay vào đó, nền kinh tế luôn luôn biến đổi do có các tương tác và cải tiến không dự đoán trước, nên sẽ có những thời kỳ biến động và bình ổn trong nền kinh tế (IPPR, 2012).

Bài viết này sẽ giới thiệu về ba nhánh tư tưởng được IPPR dự đoán là tương lai của Khoa học Kinh tế: Kinh tế học phức hợp, Kinh tế học tiến hoá, và Kinh tế học hành vi. Trong đó, nhánh Kinh tế học tiến hoá sẽ được tập trung hơn vì đây là nhánh đưa những luận giải quan trọng cho cả nền kinh tế nói chung. Bố cục của bài viết được trình bày như sau: Đầu tiên, bài viết sẽ đi vào giới thiệu sơ lược nguồn gốc và quá trình phát triển của các nhánh đã đề cập. Tiếp đến, bài viết tóm tắt các ý tưởng chính của các nhánh này, đồng thời so sánh với các giả định truyền thống và với thuyết tiến hoá trong sinh học. Sau đó, bài viết xin được nêu ra một số lý thuyết tiêu biểu và những nhà tư tưởng đã có đóng góp quan trọng cho các nhánh này trong quá khứ và hiện tại. Cuối cùng, bài viết sẽ điểm qua ý nghĩa của Kinh tế học mạng lưới, – tiến hoá, và – hành vi trong đời sống và hoạch định chính sách.

II. Nguồn gốc

Mặc dù những nhánh kinh tế học phi truyền thống có vẻ chỉ mới nổi lên trong những thập niên gần đây, các ý tưởng của chúng đã manh nha và rải rác xuyên suốt dòng chảy tư tưởng kinh tế. Trong những buổi đầu của Khoa học Kinh tế, Adam Smith đã có những công trình khắc hoạ khía cạnh tâm lý, đạo đức và tư duy của con người, đồng thời trình bày và phân tích về các khái niệm công lý, lề thói và xu hướng xã hội, tiêu biểu như trong “Lý thuyết về Cảm xúc Đạo đức” (The theory of moral sentiments, 1759) và “Các bài giảng về Công lý, Cảnh sát, Thu nhập, và Vũ trang” (Lectures on justice, police, revenue, and arms, 1763). Như vậy, từ giai đoạn khởi thủy của đã có một sự công nhận nhất định rằng con người không đơn giản là sinh vật chỉ biết tính toán duy lý cho bản thân dựa theo nhu cầu cá nhân, mà, ở một mức độ nào đó, chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố tâm lý như cảm xúc, lòng tốt, tính vị tha, và bởi tác động từ xã hội dưới dạng các phong tục, lề thói, xu hướng.

Trong suốt một thập kỷ sau đó, các trường phái truyền thống lần lượt ra đời và thống trị cách tư duy trong Kinh tế học, chủ yếu là bởi trường phái Cổ điển và Tân cổ điển. Mãi đến giữa thế kỷ 19, mới xuất hiện một số luồng tư tưởng thoát ra khỏi các giả định con người ích kỷ và duy lý – tiêu biểu là Karl Marx và Thorstein Veblen. Karl Marx, trong ba quyển “Chủ nghĩa Tư bản (Capitalism, 1867, 1885, 1894), đã phát biểu rằng sự vận động và phát triển của xã hội là từ quá trình mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp để giành quyền sở hữu vật liệu và tư liệu sản xuất. Sau khi các công trình của Marx ra đời được độ hai thập kỷ, Thorstein Veblen, người được xem là tiên phong của trường phái Thể chế, đã viết nên các tác phẩm khắc hoạ và phê phán tầng lớp dư thừa trong xã hội tư bản, và chỉ ra rằng các hành vi của tầng lớp này bị chi phối nặng nề bởi những lề thói xã hội; các cá nhân trong xã hội tiêu dùng phô trương (conspicuous consumption) và nhàn rỗi phô trương (conspicuous leisure) có những hành vi không chỉ nhằm mục đích mang lợi ích vật chất cho bản thân mà còn là để chứng tỏ sự giàu có và địa vị xã hội của họ. Nhìn kỹ vào bối cảnh lịch sử của hai nhà tư tưởng lớn này, ta có thể dễ dàng hiểu được vì đâu họ có thể phát triển nên những tư tưởng đó. Ở thời của Marx, chủ nghĩa tư bản đã có hơn 300 năm tồn tại ở châu Âu, Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất cũng đã diễn ra được nhiều thập kỷ, xã hội đã bắt đầu có sự phân tầng thành nhiều nhóm người với thu nhập và của cải khác nhau. Diễn biến kinh tế – xã hội đương thời, cộng với gốc gác và nền giáo dục Đức chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội học Pháp, đã có tác động sâu sắc đến tư tưởng của Marx về giai cấp.

Ở bờ bên kia Đại Tây Dương, những thập kỷ sau của thế kỷ 19 chứng kiến nền kinh tế công nghiệp Hoa Kỳ phát triển sôi động trong sự manh nha Cách mạng công nghiệp lần thứ hai, xã hội từ đó cũng có thặng dư, giàu có, và sự phân hoá giai cấp. Từ đây, Veblen đã quan sát được một tầng lớp giàu có, không lao động, và thích tiêu khiển, được ông gọi là “tầng lớp nhàn rỗi” (leisure class) trong cuốn “Lý thuyết về Tầng lớp Nhàn rỗi” (The theory of the leisure class, 1899). Tầng lớp này được xem là không tạo ra giá trị thông qua lao động, nhưng việc tiêu dùng của họ tạo ra cầu hàng hoá xa xỉ và cầu lao động là những người phục vụ trong gia đình. Hành động tổ chức những buổi tiệc và thú vui xa hoa, và mời nhiều bạn bè đến tham gia được Veblen xem là bị ảnh hưởng bởi mong muốn được công nhận về sự giàu có và địa vị xã hội của họ, chứ không nhằm thoả mãn lợi ích cá nhân như Tân cổ điển dự đoán. Như vậy, kể từ Marx và Veblen, Kinh tế học mới có sự nhìn nhận mạnh mẽ và nghiêm túc hơn đối với các yếu tố ngoài phạm vi cá nhân của chủ thể kinh tế. Nói cách khác, giai cấp, lề thói, quan niệm, xu hướng, văn hoá, lịch sử và nhiều yếu tố xã hội khác, đều có ảnh hưởng đến quyết định và hành vi kinh tế của con người.

Có thể nói, Marx và Veblen là những tiếng nói mạnh mẽ phê phán giả định con người ích kỷ và duy lý của trường phái truyền thống, mở đường cho tư tưởng con người bị chi phối bởi cảm xúc, giới hạn nhận thức, ngoại cảnh và thông tin không hoàn hảo trong những trường phái sau này. Kế thừa sự tách rời khỏi tư tưởng truyền thống như Marx và Veblen, Kinh tế học hành vi, Kinh tế học tiến hoá và Kinh tế học phức hợp đều có cùng những giả định và kết luận về chủ thể kinh tế và nền kinh tế. Trong những năm 1870, lý thuyết về nguồn gốc các loài, đặc biệt là ý tưởng chọn lọc tự nhiên của Charles Darwin nhận được nhiều sự chú ý và chấp nhận của cộng đồng khoa học. Đây cũng là bước ngoặt tạo tiền đề cho Veblen viết nên “Vì sao Kinh tế học không là một môn Khoa học tiến hoá?” (Why is Economics not an Evolutionary Science?) vào năm 1898, là tác phẩm lần đầu tiên giới thiệu ý tưởng tiến hoá và chọn lọc vào Khoa học Kinh tế. Trong thế kỷ nối tiếp, nhiều cái tên và tư tưởng ra đời, mang đến những quan sát và kết luận không thống nhất với những nhánh truyền thống hơn, có thể kể đến một số trường phái tiêu biểu là trường phái Schumpeter (Schumpetarianism), Keynes[3] (Keynesianism), và Hành vi lần lượt ra đời. Nếu như Schumpetarianism xuất hiện vào năm 1919 giữa quá trình Cách mạng công nghiệp lần thứ hai, dẫn tới khái niệm “sự phá huỷ sáng tạo” (creative destruction) bởi tiến bộ khoa học, thì Keynesianism sinh ra từ cuộc Đại khủng hoảng 1929 – 1932 và thất bại của niềm tin truyền thống về một thị trường có tự thể điều chỉnh, còn Kinh tế học hành vi ra đời giữa những năm 1960 khi tâm lý học nhận thức bắt đầu khởi sắc và nhận được nhiều sự chú ý.

Vào cuối thế kỷ 20 và những thập niên đầu thế kỷ 21 đến nay, thế giới chứng kiến nhiều phát minh và cải tiến công nghệ lớn, có khả năng thay đổi diện mạo nền sản xuất và cách tổ chức trong nền kinh tế, đồng thời trải qua Khủng hoảng toàn cầu 2008 và nhiều cuộc khủng hoảng ở quy mô khu vực hoặc có hệ quả yếu hơn (Khủng hoảng tài chính châu Á 1997, Bong bóng Y2K năm 2000, Khủng hoảng nợ công châu Âu 2010-2014). Công nghệ có thể khiến những ngành công nghiệp từng rất đồ sộ như bưu tín bị thu nhỏ lại, các đại lý du lịch mất khách hàng, hay vô số taxi truyền thống phải điêu đứng. Công nghệ có thể đẩy nhanh và tối ưu hoá chi phí của quá trình sản xuất, đồng thời hỗ trợ quản lý thông tin hàng hoá, con người trong công ty, và cung cấp công cụ để tiếp thị ít chi phí. Bên cạnh hệ quả lạc quan của việc tăng năng suất và thu nhập, giảm chi phí sản xuất và vận hành, phát triển công nghệ và kinh tế còn mang đến nhiều thách thức mới đối với con người như các vấn đề môi trường, công bằng xã hội, an ninh mạng và bảo mật, và sự tiềm ẩn, khó đoán của những cuộc khủng hoảng ở mọi cấp độ. Trong bối cảnh một thế giới có quá nhiều biến thay đổi và ít hằng số cố định như hiện nay, thế giới mang đặc tính phức tạp, hỗn mang và khó dự đoán, nhiều nhánh kinh tế học mới cũng ra đời để phục vụ mục đích đưa ra lời giải thoả đáng cho hành vi con người, tìm hướng giải quyết cho các vấn đề tồn đọng, và dự đoán hành vi con người và nền kinh tế nhằm đưa ra những động thái chính sách phù hợp. Các nhánh kinh tế nhận được nhiều sự chú ý trong những năm gần đây (mặc dù đã được ra đời trước đó) có thể điểm qua là Kinh tế học xanh (Green economics), Kinh tế học cải tiến (Innovation economics), Kinh tế học chia sẻ (Sharing economics), Kinh tế học sinh thái (Ecological economics), Kinh tế học thông tin (Information economics) và Kinh tế học nhiệt năng (Thermoeconomics). Tất cả những nhánh mới này đều phản ánh con người và xã hội thực tế bây giờ, cùng với những vấn đề đương đại, một cách chính xác và thực hơn.

III. Ý tưởng chính

Trong ấn phẩm “Thế giới mới phức hợp – Diễn dịch tư tưởng kinh tế học mới vào chính sách công”, Geoffrey Hodgson đã khẳng định rằng mặc dù các nhánh phi truyền thống như Kinh tế học tiến hoá thiếu một định nghĩa lý thuyết nhất quán, chúng đã và đang là một luồng suy nghĩ mạnh mẽ trong Khoa học Kinh tế, thu hút vô số các nhà nghiên cứu khắp thế giới và tạo nên một thách thức lớn đối với những trường phái truyền thống.

Những nhánh phi truyền thống có sự khác biệt cơ bản so với các nhánh truyền thống hơn trên nhiều bình diện. Đầu tiên, hai trường phái truyền thống và phi truyền thống có cách nhìn đối lập nhau về bản chất con người chủ thể kinh tế. Trường phái truyền thống khắc hoạ con người kinh tế (homo economicus) sở hữu sự duy lý và khả năng tính toán hoàn hảo (perfect rationality and computational ability) – đó là những sinh vật vị kỷ (self-interested) và luôn tìm kiếm sự tối ưu hoá lợi ích cá nhân (utility-maximising). Hành vi của họ là tìm cách tối ưu hoá phúc lợi cá nhân, dưới sự giới hạn nguồn lực nhất định. Ngược lại, trường phái phi truyền thống cho rằng, con người còn là sản phẩm của sự cảm tính, của quá trình, và của ngữ cảnh. Ý tưởng này tương thích với góc nhìn của Veblen rằng con người là sinh vật của thói quen, tuân theo những quy luật và lề thói tiềm ẩn trong xã hội (socially embedded rules and habits) một cách vô thức. Trong Veblen và Kinh tế học tiến hoá, chúng ta không đơn giản tiến hành một quá trình quy củ và có hệ thống, bắt đầu bằng việc tìm kiếm thu thập thông tin từ môi trường, tính toán và so sánh lợi ích – chi phí của từng lựa chọn hay viễn cảnh, rồi đưa ra quyết định. Những hành động của chúng ta thường được rút ra từ một tập hợp các thói quen và trải nghiệm sẵn có. Khi một thói quen hay trải nghiệm trong quá khứ được sử dụng để hỗ trợ cho việc ra quyết định ở hiện tại, thì thói quen/trải nghiệm đó càng có xác suất cao hơn được sử dụng lại cho tương lai. Việc bây giờ sử dụng một kiến thức đã học được trong quá khứ sẽ củng cố khả năng chúng ta dùng lại nó trong tương lai. Như vậy, Veblen cho rằng, con người không đưa ra một danh sách các lựa chọn được sắp xếp theo ưu tiên (ranked preference), mà hành động dựa trên một tập hợp các thói quen/trải nghiệm gặt hái trong cuộc sống, với xác suất khác nhau (Veblen, 1898).

Thứ hai, các nhánh kinh tế học phi truyền thống còn có quan điểm khác về thông tin trong nền kinh tế. Trong phân tích kinh tế truyền thống, môi trường được giả định là đạt trạng thái thông tin hoàn hảo, nghĩa là tất cả mọi chủ thể kinh tế đều nắm rõ tất cả các thông tin về mọi thứ trong thị trường để đưa ra quyết định sao cho tốt nhất cho lợi ích của họ. Như vậy, trong nền kinh tế, tất cả thông tin, dữ liệu như giá cả, số lượng cầu, số lượng cung, số người bán, số người mua, mức giá nào sẽ giúp nhà sản xuất thu hồi vốn, mức giá nào sẽ làm cho người tiêu dùng mua nhiều nhất, đều có sẵn trong thị trường, mặc định là tất cả mọi cá nhân tham gia thị trường đều biết rõ. Tuy nhiên, trạng thái này không tiệm cận với trạng thái thực tế khi thông tin trong thị trường không phải lúc nào cũng có sẵn. Hầu như trong tất cả các quyết định, khâu tìm kiếm thông tin đều có chi phí của nó, dù là ở dạng nguồn lực tài chính hay thời gian, công sức. Trong ngữ cảnh thông tin không hoàn hảo, Herbert Simon (1972) đã chỉ ra rằng, con người chỉ sở hữu một sự duy lý giới hạn (bounded rationality) và một tập hợp thông tin có sẵn nhất định. Vì lẽ đó, thế giới thực sẽ tồn tại chi phí trao đổi (transaction cost), chi phí tìm kiếm (search cost), chi phí thay đổi lựa chọn (switching cost), chi phí điều chỉnh quan điểm và hành vi (cost of changing mindset and behaviour), chi phí tiếp thị để đưa sản phẩm đến khách hàng tiềm năng (marketing cost), và rào cản gia nhập và rời khỏi thị trường (barriers to entry and exit). Tất cả những chi phí trên dược Kinh tế học tiến hoá gọi là vấn đề về kiến thức (problems of knowledge).

Thứ ba, các nhánh kinh tế học phi truyền thống không kết luận rằng nền kinh tế có xu hướng tiệm cận về một trạng thái cân bằng. Kinh tế học chính thống sẽ phát biểu rằng, sau một thay đổi trong nền kinh tế, như là thay đổi về giá, nền kinh tế sẽ dần tự sắp xếp, điều chỉnh để trở về trạng thái ban đầu trước khi biến động đó xảy ra. Quan điểm này phản ánh cách nhìn về thời gian là lô-gic và quay ngược lại được (Robinson, 1980). Theo nghĩa này, bất kỳ một sự kiện tương lai nào cũng có thể được dự đoán dựa trên một xác suất có sẵn. Tuy nhiên, các nhánh phi chính thống gần đây phủ nhận cách nhìn này, và xem dòng chảy thời gian là không thể quay lại được. Như thế, bất kỳ biến động nào trong hệ thống kinh tế không thể dẫn ngược về trạng thái trước đó, mà đến một trạng thái mới với các thói quen mới và xác suất mới. Như Bausor (1982, 1984) và Shackle (2010) đã nhấn mạnh, một lựa chọn cụ thể có thể tạo ra những thông tin mới, kết quả này sau đó sẽ thay đổi nhận định và cái nhìn của người đưa ra quyết định, khiến họ thay đổi lựa chọn trong những giai đoạn sau đó, tạo ra một vòng lặp không hồi kết. Kinh tế học tiến hoá cũng đề cao vai trò của lịch sử và thể chế trong tiến trình phát triển kinh tế, gọi là sự phụ thuộc quá trình (path dependency). Những cú sốc nhỏ trên nền kinh tế có thể dẫn đến sự thay đổi lớn trong dài hạn, tạo ra những sự “an bài” trong hệ thống (system lock-in) khiến cho việc quay trở lại và thay đổi quyết định trở nên bất khả thi. Vì vậy, Kinh tế học tiến hoá không phân tích nền kinh tế bằng cách tiếp cận trạng thái cân bằng. Thay vào đó, các trường phái này khắc hoạ hệ thống kinh tế là những tương tác và quá trình lựa chọn các quy luật, lề thói trong những quyết định và hành vi, là một quá trình đồng tiến hoá của những quy luật (co-evolutionary process). Theo lẽ đó, tiến trình phát triển kinh tế về bản chất là sự tiến hoá về tri thức, tồn tại ngầm trong nền kinh tế và xã hội.

Bảng 1.  So sánh Kinh tế học chính thống và Kinh tế học phi chính thống

  Kinh tế học chính thống Kinh tế học tiến hoá và các nhánh phi chính thống khác
Về bản chất con người Con người là những sinh vật vị kỷ và tối ưu hoá dụng ích cá nhân, sở hữu sự duy lý tuyệt đối và khả năng tính toán hoàn hảo Con người là sản phẩm của ngữ cảnh, thói quen và sự duy lý có giới hạn; hành vi con người được rút ra từ một tập hợp các thói quen, dựa trên xác suất các thói quen đó đã được chọn trong quá khứ
Về thông tin Thông tin hoàn hảo, cân xứng giữa mọi đối tượng trong nền kinh tế, không tốn chi phí thu thập thông tin hay thay đổi quyết định Chỉ có một số thông tin là có sẵn; tồn tại các vấn đề của thông tin như chi phí giao dịch, tìm kiếm, thay đổi lối sống, tiếp thị, và rào cản gia nhập, rời khỏi
Về thời gian Thời gian có thể quay ngược lại được; các sự kiện tương lai diễn ra dựa trên xác suất đã định sẵn; lịch sử và quá trình không liên quan Thời gian lịch sử, không thể đảo ngược; một số cú sốc nhỏ trong nền kinh tế có thể dẫn đến thay đổi lớn hay những an bài trong hệ thống; lịch sử và thể chế có liên quan; các thông tin mới có thể dẫn đến quyết định khác
Về nền kinh tế Nền kinh tế có xu hướng tiệm cận về lại trạng thái cân bằng sau các cú sốc Không có trạng thái cân bằng; nền kinh tế không thể trở lại chính xác trạng thái ban đầu trước cú sốc; quá trình đồng tiến hoá của thông tin, quy luật và lề thói là yếu tố khiến nền kinh tế thay đổi

Nói về Kinh tế học tiến hoá, về bản chất, ý tưởng của nhánh này được lấy cảm hứng từ Học thuyết Darwin trong sinh học, lấy đó làm nền tảng cho các tư tưởng sau này. Có sự tương quan trong các hiện tượng và quá trình giữa Sinh học tiến hoá và Kinh tế học tiến hoá. Nếu như đơn vị phân tích cơ bản của sinh học là gen và vật liệu di truyền, thì đổi tượng phân tích của Kinh tế học tiến hoá là các quy luật và thói quen (Boulding, 1983). Theo định nghĩa của Dopfer và Potts (2015), quy luật là một ý tưởng chi phối và sắp xếp các hành vi và nguồn lực trong nền kinh tế, nghĩa là các hành vi và nguồn lực kinh tế là sản phẩm của các quy luật. Không nên hiểu quy luật là những điều mang tính bắt buộc, quy định hành vi con người. Ở đây, quy luật (rules) cần được hiểu như một cách thức vận hành và một cách sắp xếp các chủ thể, vật thể trong hệ thống với nhau. Quy luật có thể ở dạng quy luật về nhận thức, hành vi, tập thể hay kỹ thuật, được giải thích rõ hơn ở phần sau.

16528274-abstract-word-cloud-for-evolutionary-economics-with-related-tags-and-terms

Ví dụ, ở mức độ cá nhân, quy luật và thói quen là những kiến thức, thông tin trong ngữ cảnh kinh tế-xã hội mà có khả năng định hình nhận thức, hành vi, tục lệ tập quán, và lề thói. Ở mức độ doanh nghiệp, quy luật và thói quen là những thứ quyết định cấu trúc doanh nghiệp, văn hoá tổ chức, trình độ công nghệ và cả các tính năng của hàng hoá, dịch vụ mà công ty cung cấp cho thị trường. Ở mức độ cộng đồng, quy luật là các quan điểm, văn hoá, thuần phong mỹ tục trong xã hội, quy định những điều nào nên làm hay không, hoặc trình độ công nghệ, hiểu biết của cả xã hội. Những quy luật, thói quen này ban đầu là những hiện tượng nổi lên (emergent phenomena) và được sinh ra từ xã hội (socially sourced), mặc dù trước đó chúng có thể bắt nguồn từ những thử nghiệm ở cấp độ cá nhân (individual experimentation) (Earl, 2017). Song song với quá trình truyền gen tới các thế hệ sau, Kinh tế học tiến hoá cũng có sự truyền đi các quy luật và lề thói trong nền kinh tế theo thời gian. Các đột biến được nhìn tương tự như các đổi mới cải tiến, là sự ra đời của các quy luật và lề thói mới trong hệ thống kinh tế phức hợp. Cải tiến làm thay đổi cục diện thích ứng và cạnh tranh của những quy luật mâu thuẫn nhau. Điều này khiến cho bất kỳ quy luật hay lề thói nào có thể thích ứng và cạnh tranh tốt nhất sẽ được giữ lại trong hệ thống và được nhân lên bởi những cá thể mang quy luật (rule carrier), giúp việc khuếch tán các quy luật này ra rộng hơn. Quá trình thay đổi các quy luật này cũng chính là quá trình phát triển tri thức, và là động cơ cho phát triển kinh tế.

Bảng 2.  So sánh Thuyết tiến hoá và Kinh tế học tiến hoá

  Học thuyết tiến hoá sinh học Darwin Kinh tế học tiến hoá
Đơn vị phân tích là… Gen và vật chất di truyền Quy luật như là những hiện tượng ngầm trong xã hội
Quá trình, vận động là… Sự chọn lọc và di truyền các gen có thể thích nghi tốt nhất với các thay đổi ngoại cảnh Sự cạnh tranh, chọn lọc, và khuếch tán các quy luật tương thích tốt nhất với hệ thống
Thay đổi và phát triển đến từ… Đột biến Cải tiến, sự phát triển tri thức, sự ra đời của các quy luật mới.

Veblen đã chỉ ra rằng, Kinh tế học tiến hoá chú trọng vào các đặc tính như sự phụ thuộc quá trình (path dependency), quá trình đồng tiến hoá (co-evolutionary process) và các thể chế (institution) khi phân tích kinh tế. Nói cách khác, Kinh tế học không đơn thuần là phân tích chi phí – lợi ích máy móc, mà còn là sự du nhập các hiểu biết từ những môn khoa học khác, cũng nghiên cứu về bản chất và hành vi con người, như xã hội học, lịch sử, triết học, và khoa học đạo đức. Mọi chuyển động trong không gian kinh tế, bao gồm các hành vi, quyết định, suy nghĩ và sự phát triển, đều là sản phẩm của các tương tác giữa các quy luật và lề thói trong hệ thống kinh tế phức hợp, qua thời gian và ngữ cảnh.

Tương tự như Kinh tế học tiến hoá, Kinh tế học hành vi cũng phủ nhận giả định về tính duy lý và vị kỷ của con người. Cốt lõi của Kinh tế học hành vi là sự kết hợp giữa kinh tế học và tâm lý học. Nhiều cách tiệp cận con người đã được đưa ra bởi nhiều nhà kinh tế học khác nhau, nhưng tựu trung lại, con người trong Kinh tế học hành vi là con người có mang yếu tố tâm lý và xã hội. Jolls và đồng sự đã mô tả khả năng ra quyết định của con người bị ràng buộc bởi tính duy lý giới hạn (bounded rationality), sự vị kỷ giới hạn (bounded self-interest) và ý chí giới hạn (bounded willpower).

Trong cuốn “Cẩm nang Kinh tế học” (Economics: The user’s guide, 2014), Ha-Joon Chang đã tóm tắt rằng, con người trong thực tế, thay vì sở hữu những khả năng siêu phàm như trong những lý thuyết truyền thống, thật ra là những thực thể kém hoàn hảo với 5 đặc tính sau:

  • Con người có tính đa chiều (divided): Chúng ta có nhiều bản thể khác nhau trong cùng một con người. Mỗi bản thể sẽ hành xử khác nhau trong các tình huống khác nhau, như hôm nay chúng ta quyết tâm sẽ giữ chế độ ăn lành mạnh, nhưng hôm sau lại bị cám dỗ bởi những món đồ ngọt hấp dẫn.
  • Con người bị ảnh hưởng bởi xã hội (embedded): Chúng ta bị ảnh hưởng bởi những cá thể xung quanh, như gia đình, láng giềng, bạn bè, tầng lớp.
  • Con người dễ bị ấn tượng (impressionable): Chúng ta dễ bị điều khiển trong cách suy nghĩ và hành động bởi người khác. Một số thứ đang điều khiển chúng ta, ở một mức độ nào đó, bao gồm các tuyên truyền chính trị, truyền thông đại chúng, quảng cáo, và giáo dục.
  • Con người là phức tạp (complicated): Chúng ta không chỉ vị kỷ; trong nhiều trường hợp, con người có thể hành động đi ngược với lợi ích bản thân. Một số hiện tượng tâm lý như vậy là lòng yêu nước, đoàn kết, lòng trắc ẩn, công lý, tinh thần trách nhiệm, tình bạn, tình yêu, đam mê cái đẹp, và nhiều hiện tượng khác.
  • Con người lúng túng (bumbling): Con người cũng không duy lý cho lắm. Đôi khi quyết định của chúng ta bị ảnh hưởng bởi nỗi sợ, tâm lý bầy đàn, hay cách vấn đề dẫn dắt. Vì vậy nên chúng ta thường hành động dựa trên bản năng hay phỏng đoán nhiều hơn là suy nghĩ lô-gic.

Chính bởi những thiếu sót trong khả năng nhận thức và tính toán, Thaler và Sunstein cho rằng, con người thường bị phụ thuộc một số phương pháp, quy tắc khi ra quyết định, chứ không thông qua cách tính toán – lựa chọn như truyền thống đã giả định. Những phương pháp và quy tắc đó bao gồm phỏng đoán (heuristics), dẫn dắt (framing) và ác cảm mất mát (loss aversion). Trong những trường hợp đặc biệt như khi tồn tại trạng thái bất định hay không có khả năng thu thập thông tin đầu đủ, con người thường sử dụng bản năng, các trải nghiệm trong quá khứ hay các quy tắc phổ biến để phỏng đoán và hành động. Con người cũng sẽ phản hồi khác nhau khi cùng một vấn đề được dẫn dắt theo các cách khác nhau. Cuối cùng, con người thường tránh đưa ra những quyết định có khả năng gây ra mất mát.

Bàn về quá trình phát triển và cấu trúc nền kinh tế, Kinh tế học phức hợp chia sẻ với Kinh tế học tiến hoá ở quan điểm về một nền kinh tế ở dạng hệ thống phức hợp. Các tác giả Brian Arthur, Steven Durlauf và David Lane (1997) đã mô tả sự phức hợp có nghĩa bao gồm những tương tác rải rác giữa nhiều thành phần trong nền kinh tế mà không cần có một sự quản lý, chi phối từ một chủ thể đơn nhất nào. Nền kinh tế được xem như một hệ thống mạng lưới chằng chịt các mối quan hệ cắt ngang qua nhiều tầng trong hệ thống chứ không gói gọn trong tầng đang xem xét của chủ thể. Hệ thống này được khắc hoạ là tự thích ứng theo các chuyển động của những chủ thể bên trong nó, và các chuyển động này diễn ra không ngừng. Như vậy, kinh tế không thể đạt trạng thái cân bằng được, mà luôn luôn biến đổi.

Tương tác giữa các chủ thể trong hệ thống cũng là một mối quan tâm lớn của Kinh tế học phức hợp. Trường phái không chỉ xem xét con người trên bình diện những tố chất nội tâm như khả năng nhận thức hay tâm lý, mà còn nghiên cứu cách môi trường xã hội ảnh hưởng đến con người. Như vậy, phân tích vĩ mô không được tiến hành chỉ bằng việc cộng gộp các cá thể vi mô lại với nhau, mà còn phải phân tích cách các cá thể này tác động lẫn nhau trong hành vi và quyết định. Các ý tưởng này sẽ được triển khai rõ hơn trong phần sau của bài viết.

IV. Một số lý thuyết tiêu biểu

Khung lý thuyết vi mô-trung dung-vĩ mô (Micro-meso-macro framework – MMM)

Một ý tưởng phổ biến trong Kinh tế học tiến hoá là khung lý thuyết vi mô-trung dung-vĩ mô. Khung MMM đã được ba nhà Kinh tế học tiến hoá Kurt Dopfer, John Foster và Jason Potts đưa ra vào năm 2004 trong bài báo “Micro-meso-macro” trên Tạp chí Kinh tế học tiến hoá (Journal of Evolutionary Eocnomics).  Theo đó, MMM, dựa trên ý niệm chính của Kinh tế học tiến hoá rằng bản chất của nền kinh tế là “một dân số của các quy luật, một cấu trúc các quy luật, và một quá trình các quy luật (“a population of rules, a structure of rules, and a process of rules”), các tác giả cho rằng cách phân chia nền kinh tế thành hai tầng vi mô và vĩ mô là quá đơn giản trong phân tích kinh tế. Từ góc nhìn tiến hoá, người ta không thể trực tiếp gộp tất cả vi mô để trở thành vĩ mô. Nền kinh tế không chỉ được định nghĩa bởi những quyết định và hành vi của cá nhân và doanh nghiệp, mà còn phải được xem xét đến lịch sử, quá trình, thể chế, các quy luật, tiêu chuẩn, lề thói trong xã hội. Không thể đi trực tiếp từ tầng vi mô đến vĩ mô bằng cách gộp các đơn vị vi mô đơn lẻ với nhau để tạo thành một hình thể chung ở vĩ mô. Thay vào đó, phân tích kinh tế cần có một cấp độ ở giữa để miêu tả những yếu tố quy luật ngầm chi phối cách suy nghĩ và hành động của các cá thể trong xã hội. Đó chính là tầng trung dung (meso) nằm giữa trục vi mô-vĩ mô.

Bảng 3.  Đơn vị phân tích của cấp độ vi mô, trung dung và vĩ mô

Cấp độ phân tích Vi mô Trung dung Vĩ mô
Đơn vị phân tích Chủ thể cá nhân, đơn lẻ (Individual agent) Quy luật phổ quát (Generic rule) Chuyển động chung (Aggregate movement)

Dopfer, Foster và Potts đã mô tả nền kinh tế là một hệ thống phức hợp các quy luật tương quan lẫn nhau và thay đổi theo thời gian. Sự tương tác và tiến hoá các quy luật sẽ dẫn đến sự hình thành các quy luật mới, đồng thời củng cố những quy luật hiện tại, dẫn đến sự tiến hoá của nền kinh tế. Những động lực này xảy ra ở cấp độ tầm trung của nền kinh tế, là quá trình khởi tạo, thích ứng và duy trì các quy luật phù hợp.

Một đơn vị trung dung (meso unit) bao gồm một quy luật phổ quát (generic rule) và dân số của quy luật đó (rule population), túc là các chủ thể cá nhân hay doanh nghiệp tuân thủ và mang theo quy luật đó. Nếu nhìn từ tầm vi mô, các chủ thể kinh tế là những “sinh vật sử dụng và tạo tác quy luật” (“a rule using and rule-making animal”). Điều này có nghĩa là con người là sản phẩm của thể chế, của kỳ vọng, của môi trường; chúng ta tạo ra và tuân theo các quy luật một cách đồng thời và vô thức. Những quy luật như thế định hình nhận thức, tư duy và hành vi của chủ thể kinh tế, như là cách nhìn về việc làm, văn hoá công ty hay cách phân công công việc trong tổ chức. Còn nhìn từ tầm vĩ mô, nhiều đơn vị trung dung (bao gồm quy luật và dân số của quy luật) hợp thành một hệ thống, cấu trúc hoàn chỉnh. Các quy luật này đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ, chính trị, môi trường, đức tin, và nhiều lĩnh vực khác, tất cả cùng tương quan sinh động với nhau tạo nên một bức tranh tổng thể trong ngành hoặc trong cả nền kinh tế. Thật khó để đưa ra một phân tích đầy đủ và hoàn chỉnh về những đơn vị vĩ mô như một ngành công nghiệp, một nền kinh tế hay một xã hội, nếu chúng ta lược bỏ một số quy luật phổ quát như cách tổ chức ngành, cấu trúc thị trường, thể chế chính trị, khung pháp lý, văn hoá và quan niệm đạo đức, hiếu biết và trình độ công nghệ, nguồn tài nguyên và tình hình sinh thái … của đơn vị vĩ mô đó. Cũng như hai cá thể có thể có cùng hiểu biết công nghệ nhưng khác nhau về quan niệm đạo đức hay quan điểm chính trị, các đơn vị vi mô không thể được cộng gộp lại để tạo nên bức tranh vĩ mô được, mà phải thông qua một tầng trung dung hàm chứa các quy luật phổ quát và dân số của các quy luật đó, định hình các đặc tính của một hệ thống vĩ mô.

Bất kỳ một thay đổi nào trong các quy luật phổ quát ở tầm trung đều kích hoạt thay đổi ở những cấp độ khác. Trong miền vi mô, đó là những thay đổi trong nhận thức và hành vi của những cá thể mang quy luật và trong cách họ tương tác với nhau. Ở miền vĩ mô, đó là những thay đổi trong sự phối hợp, điều hoà giữa các đơn vị trung dung với nhau trong hệ thống.

Cấp độ tầm trung và phân loại quy luật (meso level and taxonomy of rules)

Như đã đề cập ở trên, đối tượng phân tích của miền trung dung là đơn vị trung dung (meso unit), bao gồm một quy luật phổ quát và dân số những cá thể mang quy luật đó.

Một cách để phân loại các quy luật phổ quát là sử dụng cách phân loại của Dopfer và Potts (2015) (taxonomy of rules). Theo đó, các quy luật được chia ra thành quy luật chủ thể (subject rules) và quy luật vật thể (object rules). Quy luật chủ thể là những quy luật về chủ thể, định hình suy nghĩ bên trong và cách tương tác với các những chủ thể khác, được phân loại thành quy luật nhận thức (cognitive rules) và quy luật hành vi (behavioural rules). Quy luật vật thể xoay quanh cách sắp xếp nhiều chủ thể hay vật thể trong hệ thống, bao gồm quy luật tập thể (social rules) và quy luật kỹ thuật (technical rules).

  • Quy luật nhận thức (cognitive rules): một dạng quy luật chủ thể, diễn ra trong nội tâm của chủ thể, định hình cách suy nghĩ và nhìn nhận thế giới.
  • Quy luật hành vi (behavioural rules): một dạng quy luật chủ thể, diễn ra trong nội tâm của chủ thể, chi phối cách chủ thể tương tác với môi trường.
  • Quy luật tập thể (social rules): một dạng quy luật vật thể, quy định cách nhiều chủ thể con người được sắp xếp với nhau vào những tập thể.
  • Quy luật kỹ thuật (technical rules): một dạng quy luật vật thể, quy định cách sắp xếp của vật chất, tri thức và công nghệ.

Bảng bên dưới thể hiện sự phân chia các quy luật phổ quát, đồng thời vận dụng vào phân tích các quy luật ảnh hưởng đến lao động và nghề nghiệp thời hiện đại.

Bảng 4.  Phân loại quy luật và minh hoạ bức tranh lao động, nghề nghiệp thời hiện đại

Phân loại quy luật Quy luật phổ quát
Quy luật chủ thể Quy luật vật thể
Quy luật

nhận thức

Quy luật

hành vi

Quy luật

tập thể

Quy luật

kỹ thuật

Định nghĩa Định hình cách suy nghĩ và nhìn nhận bản thân và thế giới Chi phối cách chủ thể tương tác với môi trường bên ngoài Quy định cách nhiều chủ thể con người được tổ chức vào hệ thống Ảnh hưởng đến cách sắp xếp của vật chất, tri thức và công nghệ
Áp dụng vào bức tranh về lao động, nghề nghiệp trong thời hiện đại ·     Mong muốn tự khởi nghiệp, làm việc tự do (freelance)

·     Chấp nhận thời gian làm việc linh hoạt, có thể làm việc từ xa, ngoài văn phòng

·     Coi nhảy việc là bình thường, bớt chú trọng đến việc trung thành với một chỗ làm duy nhất

·     Tâm thế hợp tác, hỗ trợ, hơn là cạnh tranh, đối đầu trực tiếp

·     Có sự phối hợp lẫn nhau giữa các chức năng, phòng ban, nhất là trong các doanh nghiệp nhỏ

·     “Bản năng sư phạm” (natural pedagogy) giúp các chủ thể chia sẻ thông tin với nhau

·     Ít rạch ròi hơn giữa các chức năng trong công ty, giảm sự phân tầng các cấp quản lý

·     Cấu trúc công ty linh hoạt, giảm sự quan liêu, tầng lớp

·     Xuất hiện các mạng lưới doanh nghiệp hỗ trợ lẫn nhau

·     Lòng tin là nền tảng cho hợp tác và trao đổi

·     Công nghệ mới như mạng không dây, định vị, chia sẻ trực tuyến

·     Thiết bị mới: laptop, điện thoại thông minh hỗ trợ làm việc từ xa, trao đổi công việc

·     Ứng dụng mới: các nền tảng trực tuyến cho làm việc nhóm và quản lý dự án, quản lý con người, hàng hoá, giúp điều phối nguồn nhân lực và tài nguyên tốt hơn

·     Cách thức kinh doanh mới: học trực tuyến, kinh doanh trực tuyến, tiếp thị trực tuyến…

·     Văn phòng trở nên mở hơn, phát sinh nhiều không gian làm việc chung cho nhiều công ty

Quỹ đạo tầm trung (meso trajectory)

Như đã nhắc trong khung lý thuyết MMM ở trên, không có một mối liên hệ trực tiếp từ miền vi mô đến vĩ mô, mà phải thông qua một tầng trung dung ở giữa. Cấp độ trung dung bao gồm các quy luật và dân số mang quy luật đó. Bất kỳ thay đổi nào ở cấp độ này cũng kích thích thay đổi trong hai cấp độ còn lại.

Quỹ đạo thay đổi trong miền trung dung bao gồm ba giai đoạn: Đầu tiên, một quy luật mới nổi lên từ quá trình học tập hay thử nghiệm của một hoặc một nhóm cá thể trong xã hội; giai đoạn này được gọi là “khởi tạo” (origination). Kế đến là giai đoạn “chấp nhận” hoặc “thích ứng” (adoption/adaptation), khi các cá thể khác bắt đầu trải nghiệm, học tập và làm theo quy luật mới, nếu quy luật mới phù hợp hơn quy luật cũ. Cuối cùng, ở giai đoạn “duy trì” (retention), các quy luật phù hợp được giữ lại và nhân rộng, các cá thể dần dần trở nên quen thuộc với nó, và quy luật trở nên bình thường, không còn xa lạ bởi xã hội.

Bảng dưới đây tổng hợp lại ý chính của quỹ đạo tầm trung và các ảnh hưởng của nó lên cấp độ vi mô và vĩ mô. Để minh hoạ rõ hơn, người viết sử dụng lý thuyết này để phân tích lộ trình xâm nhập và phát triển của thương mại điện tử (TMĐT).

Bảng 5.  Quỹ đạo trung dung và minh hoạ cho ngành thương mại điện tử

Giai đoạn Thay đổi và ứng dụng Quỹ đạo
Meso Micro Macro
Khởi tạo Thay đổi Xuất hiện quy luật, công nghệ, tri thức mới Bước đầu tiếp xúc với quy luật mới, người tiêu dùng tự tạo ra kiến thức, khả năng và thói quen mua sắm mới, nhà sản xuất bắt đầu thay đổi sản phẩm và phương thức hoạt động Giải toả, phá vỡ nhiều mối liên hệ cũ, thay đổi cách tổ chức ngành bán lẻ và phân phối, ngành mới xuất hiện
  Thương mại điện tử Ra đời các nền tảng TMĐT và sàn giao dịch, công nghệ thanh toán trực tuyến, bảo mật thông tin, tính năng bình luận và đánh giá cộng đồng Người tiêu dùng làm quen với TMĐT, ban đầu có sự trải nghiệm và cẩn trọng với phương thức mua sắm mới, đồng thời tự tạo cho mình khả năng sử dụng Internet và cách thức mua hàng qua mạng, cách phản hồi thông tin

Nhà sản xuất thay đổi phương thức tiếp thị, đầu tư vào hình ảnh, miêu tả tính năng và đảm bảo các bình luận tốt về sản phẩm đã bán.

Bắt đầu xuất hiện vòng lặp phản hồi, đánh giá, báo cáo lỗi

Cách tổ chức nhiều ngành thay đổi: không còn gói gọn trong các kênh phân phối truyền thống như bán sỉ-lẻ, mà còn mở rộng sang các kênh trực tuyến.

Nhiều ngành mới xuất hiện để hỗ trợ TMĐT: dịch vụ chuyển phát, e-logistics, dịch vụ trả lời khách hàng trực tuyến.

Thích ứng Thay đổi Quy luật mới trở nên quen thuộc hơn, các cá thể trở nên thành thạo hơn. Bắt đầu xuất hiện cạnh tranh.

Có thể xuất hiện các quy luật khác để bổ sung, hỗ trợ, quản lý quy luật mới này.

Các cá thể trải nghiệm, học tập và thích ứng hơn với quy luật mới, đồng thời bắt đầu gia nhập bên cung, tăng cạnh tranh  Có sự sắp xếp, tổ chức lại trong ngành, cấu trúc ngành thay đổi sâu

Tạo ra nhiều mối liên kết, hợp tác mới, nhiều tổ chức mới

  Thương mại điện tử Ban đầu, trào lưu TMĐT chưa được chấp nhận rộng rãi và bị hoài nghi bởi tính an toàn, bảo mật và đáng tin cậy của nó. Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn TMĐT được thử nghiệm, nhận phản hồi từ người tiêu dùng, và dần cải tiến, thích nghi theo nhu cầu.

Xuất hiện các khung pháp lý: Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử, Thông tư 47/2014/TT-BCT Quy định về quản lý website thương mại điện tử.

Người tiêu dùng thành thạo các thao tác mua hàng, đồng thời có khả năng so sánh giá cả, chất lượng tốt hơn, tránh mua phải hàng kém chất lượng, có thể bảo vệ bản thân tốt hơn trước những chiêu trò lừa đảo qua mạng.

Cạnh tranh trong ngành tăng nhanh. Ngoài một số nhà cung cấp khởi đầu thị trường như Lazada, Tiki hay Zalora, nhiều doanh nghiệp khác cũng bắt đầu gia nhập như Adayroi, Sendo và Shopee. Đồng thời, các doanh nghiệp trước đó chỉ chủ yếu bán hàng qua các kênh truyền thống, nay cũng lấn sân sang TMĐT như Lotte, Điện máy xanh hay Thế giới di động.

Thị trường không còn là độc quyền bởi một số doanh nghiệp tiên phong trong ngành TMĐT, mà trở nên cạnh tranh hơn.

Một số kênh truyền thống mất dần thị phần, có thể thấy rõ ở các sản phẩm sách, mỹ phẩm, quần áo, và các dịch vụ ăn uống, đặt phòng, mua vé.

Xuất hiện các hình thức hợp tác giữa doanh nghiệp TMĐT và doanh nghiệp giao hàng: Foody và Delivery Now khi mới bước chân vào ngành này đã kết hợp với Grab Delivery và Giao Hàng Nhanh, trước khi phát triển đội ngũ giao hàng riêng của họ.

Thành lập Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (VECITA), Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM)

Duy trì Thay đổi Các thói quen, khả năng được duy trì và nhân rộng, trở nên ngầm, mặc định và thành trạng thái bình thường mới Các cá thể trở nên quen thuộc và thành thạo với quy luật mới, không còn lạ lẫm, hoài nghi Quy luật lúc này được nhân rộng ra, thị trường dần trở nên ổn định, ít có đột phá lớn
  Thương mại điện tử TMĐT trở nên phổ biến, được chấp nhận rộng rãi Người tiêu dùng chấp nhận TMĐT như một kênh mua sắm thường xuyên. Các nhà sản xuất cũng xem TMĐT là một kênh phân phối, tiếp thị hiệu quả bên cạnh kênh phân phối truyền thống TMĐT và các ngành liên quan liên kết với nhau chặt chẽ, lập thành bộ mặt mới của ngành phân phối nói chung và TMĐT nói riêng

 

4. Nền kinh tế là hệ thống phức hợp (the economy as complex system)

Ý tưởng xem nền kinh tế là một hệ thống phức hợp tự thích ứng (complex adaptive system) được thảo luận bởi John Foster trong công trình “Vì sao Kinh tế học không là một môn Khoa học hệ thống phức hợp?” (Why is economics not a complex system science?, 2004). Trong đó, John Foster giải thích rằng “phức hợp” diễn tả một trạng thái “phức tạp một cách có trật tự” (ordered complicatedness), còn “tự thích ứng” chỉ khả năng tự duy trì bản thân và vận động bằng cách tiêu thụ năng lượng tự do và thay đổi theo kết quả của chọn lọc điều thích hợp nhất. Cũng giống như khung lý thuyết MMM, góc nhìn hệ thống phức hợp về nền kinh tế không xem nền kinh tế đơn thuần là một tập hợp các đơn vị vi mô, mà bao hàm cả các tương tác giữa chúng, cũng như các quy luật ngầm chi phối hành động của chúng. Yếu tố thời gian lịch sử (historical time) và sự phụ thuộc quá trình (path dependency) cũng được đưa trở lại vào phân tích mạng lưới, trong khi đó, cách tiếp cận tối ưu hoá dụng ích trong giới hạn (constraint optimisation) được cho là không còn hiệu quả vì các giả định đơn giản hoá về con người và nền kinh tế đã không còn hiệu lực nữa. Không có một cân bằng nào cho nền kinh tế, mà bản thân nền kinh tế luôn chuyển động thông qua quá trình học tập và trải nghiệm, phá huỷ và tái tạo các yếu tố cấu thành hệ thống.

Phân tích mạng lưới xã hội (Social network analysis – SNA)

Phân tích mạng lưới xã hội có liên quan đến góc nhìn hệ thống phức hợp, bắt nguồn từ ý tưởng của nhà xã hội học người Đức Georg Simmel trong những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. SNA dựa trên ý niệm rằng hành vi của con người không chỉ dựa vào các đặc điểm bên trong chủ thể như đặc điểm nhân khẩu học, tính cách, sở thích, quan điểm hay trình độ học vấn. Thay vào đó, chủ thể và bản thân những đặc điểm trên sẽ chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ với các chủ thể khác.

SNA được dùng để nghiên cứu các mạng lưới phức hợp bao gồm các điểm (node) và các liên kết (tie, link); trong lĩnh vực Kinh tế học, các điểm có thể là cá nhân, người ra quyết định, công ty, hay ngành công nghiệp, còn các liên kết là các mối liên hệ, tương tác giữa các điểm. SNA là cách tiếp cận phổ biến trong Xã hội học, đồng thời cũng được sử dụng vào nhiều môn khoa học khác như Kinh tế học, Khoa học tổ chức, Chính trị học, Công nghệ thông tin, Khoa học máy tính.

Dụ ngôn về hai người thợ đồng hồ (The parable of two watchmakers)

Herbert Simon đã lần đầu tiên nêu ra ý tưởng về cấu trúc và cách tổ chức của hệ thống trong công trình “Kiến trúc của sự Phức hợp” (The Architecture of Complexity, 1962). Simon đã đề xuất rằng sự phức hợp trong hệ thống không phải ở dạng hỗn mang, ngẫu nhiên, mà sắp xếp có trật tự theo tầng lớp, cấp bậc (hierarchy). Ý tưởng này được ông kể qua câu chuyện về hai người thợ làm đồng hồ như sau:

Ở một thị trấn kia, có hai người thợ đồng hồ tên là Hora và Tempus. Họ đều là những người thợ lành nghề và có khả năng tạo ra những sản phẩm tinh xảo, chất lượng cao. Mỗi chiếc đồng hồ của Hora hay Tempus đều được tạo từ 1000 chi tiết. Ban đầu, cả hai cùng được nhiều khách hàng tìm tới và sản phẩm của họ được đón nhận nồng nhiệt. Tuy nhiên, sau một thời gian, Hora vẫn thành công và tiếp tục công việc kinh doanh của mình, còn Tempus ngày càng mất khách và cuối cùng phải đóng cửa.

Lý do nằm ở cách Hora và Tempus cấu trúc sản phẩm của họ. Nhớ lại rằng mỗi sản phẩm đều được lắp ráp từ 1000 chi tiết. Tempus đã làm nó theo cách ráp cả 1000 chi tiết lại với nhau. Như vậy thì mỗi khi đang làm dở, nếu có một sự kiện nào đó cắt ngang – ví dụ như có cuộc gọi đặt hàng từ khách hàng, Tempus phải đặt các phần đã lắp xuống và phần đó sẽ rời ra thành những mảnh nhỏ ban đầu. Để tiếp tục, Tempus phải bắt đầu lại từ đầu. Nếu Tempus càng đắt hàng và càng nhận được nhiều cuộc gọi, ông sẽ phải mất thời gian hơn và khó khăn hơn trong việc chế tạo một cái đồng hồ hoàn chỉnh.

Hora không làm vậy. Ông chia các chi tiết thành những tổ hợp nhỏ, với mỗi tổ hợp bao gồm 10 chi tiết. Từ tầng thấp nhất là 1000 chi tiết, ông đã lắp ráp từng tổ hợp 10 chi tiết với nhau để cho ra 100 tổ hợp, và từ 100 tổ hợp này thành 10 tổ hợp lớn hơn, và từ 10 tổ hợp lớn hơn ấy thành một chiếc đồng hồ hoàn chỉnh. Khi làm theo cách này, nếu có bất kỳ một sự gián đoạn nào trong quá trình làm việc, ông chỉ phải tiếp tục từ ngay chính tổ hợp ông đang làm dở, chứ không phải bắt đầu lại, bởi những tổ hợp ông lắp ráp trước đó vẫn còn nguyên và kết nối với nhau.

Câu chuyện trên có thể được liên hệ đến cách xây dựng hệ thống kinh tế trong hiện thực để đối phó tốt hơn với các cú sốc. Nếu nền kinh tế được cấu trúc theo tầng lớp và tổ hợp như sản phẩm của Hora, khi có một sự gián đoạn hay cú sốc nào xảy ra ở một phần của nền kinh tế, những phần còn lại không bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến mức bị phá huỷ như trong sản phẩm của Tempus. Dư chấn của cú sốc đó cũng ít có khả năng lan rộng ra đến các phần còn lại. Cách tổ chức đó khiến cho khả năng nền kinh tế gượng dậy tốt hơn và nhanh hơn. Peter Earl (2017) đã nhấn mạnh rằng, khả năng hồi phục sau cú sốc (resilience after shocks) cũng quan trọng không kém khả năng kháng cự cú sốc (resistance to shocks), nhất là với những cú sốc bất khả kháng như thiên tai hay suy thoái theo chu kỳ.

Quá trình đồng tiến hoá (co-evolutionary process)

Ở cấp độ trung dung, các quy luật trong hệ thống tương tác lẫn nhau và thay đổi lẫn nhau, dẫn đến hành vi ở tầm vi mô và trạng thái ở tầm vĩ mô. Trong minh họa phân loại quy luật bằng phân tích tình trạng lao động và nghề nghiệp hiện nay, có thể thấy các quy luật có sự tác động mạnh mẽ với nhau. Sự phát triển trong công nghệ thông tin và thiết bị di động (quy luật kỹ thuật) là nền tảng hỗ trợ cho khả năng làm việc từ xa, làm việc ngoài văn phòng và làm việc tự do (quy luật nhận thức). Chính xu hướng này cũng thúc đẩy tinh thần hợp tác, chia sẻ nguồn tài nguyên và thông tin (quy luât hành vi), hình thành các mạng lưới ngành hoặc doanh nhân khởi nghiệp (quy luật tập thể). Trong cấu trúc những doanh nghiệp mới, các đầu việc thường không có sự phân công rõ ràng giữa các lao động, và một người có thể đa nhiệm trên nhiều đầu việc khác nhau từ các chức năng, phòng ban khác nhau (quy luật tập thể) – điều này lại một lần nữa cần có sự hợp tác giữa các cá nhân (quy luật hành vi), và sự hỗ trợ của công nghệ (quy luật kỹ thuật). Tâm thế hợp tác (quy luật hành vi), xu hướng làm việc tự do (quy luật nhận thức) và sự phân chia công việc mơ hồ giữa các lao động (quy luật tập thể) cũng góp phần đưa đến sự ra đời của những không gian làm việc chung (co-working space, quy luật kỹ thuật), nơi các cá nhân hay công ty khác nhau có thể đến làm việc, chia sẻ thông tin và giao lưu trong mạng lưới. Quá trình các quy luật tương tác lẫn nhau như thế được gọi là quá trình đồng tiến hoá (co-evolutionary process).

Sự phụ thuộc quá trình (path dependency) và hiện tượng an bài trong hệ thống (system lock-in)

Sự an bài trong hệ thống (system lock-in) là một hệ quả của thời gian lịch sử, không thể quay lại để thay đổi được. Khi một sự kiện nào đó diễn ra trên dòng thời gian, hệ thống sẽ đi theo hướng của sự kiện đó, khiến cho các sự kiện sau này đều xảy ra dưới tác động của sự kiện bước ngoặt. Nói cách khác, không thể quay trở lại trạng thái ban đầu như trước khi sự kiện đó xảy ra, như các nhánh Kinh tế học truyền thống giả định. Hiện tượng các sự kiện, quyết định diễn ra thời gian sau phải phụ thuộc và bị ảnh hưởng bởi các sự kiện, quyết định diễn ra trước đó được gọi là sự phụ thuộc quá trình (path dependency).

Các an bài trong hệ thống (system lock-in) là những chiều hướng do một sự kiện bước ngoặt nào đó xảy ra, khiến cho hệ thống rơi vào trạng thái an bài và bị “khoá” theo hướng đó mà không thể trở lại được. Một ví dụ điển hình của hiện tượng an bài trong hệ thống là kiểu bàn phím QWERTY sử dụng rộng rãi hiện nay. Ban đầu, khi con người vẫn còn đang sử dựng máy đánh chữ và bàn phím chưa ra đời, kiểu dàn chữ QWERTY được phát minh để tránh tình trạng khi gõ các chữ gần nhau trên bảng chữ cái thì các phím bị dính với nhau, khiến người gõ phải gỡ các phím ra và để dấu lại trên trang giấy. Kiểu dàn chữ QWERTY sau đó được nhân rộng ra trên các máy đánh chữ của các nhà sản xuất khác, vì kiểu này đã được những người thợ đánh máy sử dụng quen; nếu sản xuất máy đánh chữ có cách dàn chữ khác, người sử dụng sẽ khó có thể mua và sử dụng, vì họ phải mất thời gian và công sức học cách đánh chữ lại từ đầu.

Tuy nhiên, khi bàn phím máy tính xuất hiện, QWERTY lại cho thấy sự thiếu hiệu quả trong việc đánh chữ. Một kiểu dàn chữ khác ra đời tên là Dvorak, dựa theo tên người phát minh ra nó. Dvorak sắp xếp các chữ cái sao cho những chữ cái xuất hiện thường xuyên trong tiếng Anh được xếp ở hàng giữa của bàn phím, khiến cho việc đánh máy nhanh hơn và tiện lợi hơn. Thế nhưng, bàn phím QWERTY đã ra đời và tồn tại trước Dvorak nửa thế kỷ, người dùng đã thành thạo kiểu đánh chữ QWERTY và các nhà sản xuất đã có kinh nghiệm trong việc sản xuất kiểu bàn phím đó. Vì vậy, mặc dù được giới thiệu là giúp cho việc đánh máy hiệu quả hơn, Dvorak vẫn không thể phổ biến như QWERTY. Đây là một ví dụ tiêu biểu cho việc hệ thống có thể đi theo một hướng không tối ưu do chi phí thay đổi quá lớn, và các sự kiện sau bước ngoặt đều phụ thuộc vào quá trình kể từ bước ngoặt đó. Bàn phím QWERTY là một ví dụ điển hình của sự phụ thuộc quá trình và hiện tượng an bài trong hệ thống.

Sự phá huỷ sáng tạo (creative destruction), đổi mới căn nguyên và đổi mới tăng dần (radical versus incremental innovation)

Thuật ngữ “sự phá huỷ sáng tạo” (creative destruction) gắn liền với Joseph Schumpeter trong công trình nghiên cứu “Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ” (Capitalism, Socialism and Democracy, 1942). Trong đó, Schumpeter cho rằng, những nguồn lực từ chủ nghĩa tư bản và sự phát triển trong trình độ khoa học công nghệ là động lực dẫn đến sự phá huỷ những liên kết và trật tự kinh tế trước đó. Điều này có thể thấy qua ví dụ về thương mại điện tử ở trên. Khi công nghệ cho phép thương mại điện tử ra đời, các nhà sản xuất cũng nắm bắt xu hướng kinh doanh trực tuyến và có những động thái gia nhập thị trường, cũng như điều chỉnh quá trình sản xuất – kinh doanh của họ. Những thay đổi này dẫn đến hàng loạt kết quả: sự tạo thành các mối quan hệ kinh doanh mới với các công ty giao hàng hay công ty cung cấp sàn giao dịch điện tử, khả năng tiếp cận nhiều khách hàng mới, sự ra đời của nhiều lĩnh vực phụ trợ, đồng thời đe doạ các kênh phân phối truyền thống như nhà sách hay đại lý bán vé, khiến cho cấu trúc nền kinh tế thay đổi. Vì những sự phá huỷ này bắt nguồn tự sự xuất hiện của một tiến bộ khoa học hay tri thức mới, nên được gọi là phá huỷ (có tính chất) sáng tạo.

Những đổi mới mang tính triệt để, có khả năng thay đổi cục diện ngành hoặc xoá bỏ một ngành cũ, được gọi là đổi mới căn nguyên (radical innovation). Một số ví dụ có thể kể đến là máy ảnh kỹ thuật số thay thế cho máy ảnh phim, điện thoại cảm ứng thay thế cho điện thoại phím bấm, hay tin nhắn, cuộc gọi đã thay thế cho thư và điện tín. Ngược lại, đổi mới tăng dần (incremental change) là những thay đổi mang tính củng cố, hoàn thiện dựa trên nền tảng công nghệ có sẵn. Tiếp nối những ví dụ trên, đổi mới tăng dần là sự phát triển thêm độ phân giải cho máy ảnh kỹ thuật số, tích hợp tính năng chụp hình, quay phim, làm việc trên điện thoại thông minh, hay thêm tính năng chia sẻ hình ảnh, dịch vụ thoại có kèm hình ảnh.

Sự phổ biến của thói quen và quy luật (ubiquity of habits and rules)

Trong bài báo khoa học “Sự phố biến của lề thói và quy luật” (The ubiquity of habits and rules, 1997), Geoffrey Hodgson đã chỉ ra rằng, các quy luật thật ra rất phổ biến trong nhận thức và suy nghĩ của con người. Ngay cả trong quá trình tối ưu hoá, con người cũng sử dụng một số quy tắc để xác định và tính toán chi phí – lợi ích. Hodgson đưa ra 7 trường hợp cần dùng đến thói quen và quy luật để đưa ra quyết định:

  • Tối ưu hoá (optimisation): Cách xác định đâu là chi phí, đâu là lợi ích và cách định lượng chúng đều dựa trên quan điểm, quy tắc. Các giả định về con người và thông tin cũng không hoàn toàn chính xác trong thực tế, nên vẫn cần dùng đến thói quen và quy luật trong quá trình tối ưu hoá.
  • Tính kéo dài (extensiveness): Mặc dù thông tin có sẵn và đầy đủ, trong một số trường hợp, việc thu thập thông tin đòi hỏi phải đầu tư rất nhiều thời gian và nguồn lực. Chi phí thông tin tăng khiến cho người ra quyết định ít có động lực tìm hiểu cặn kẽ mà chuyển sang sử dụng các thói quen hay quy luật.
  • Tính phức hợp (complexity): Mặc dù thông tin có sẵn và đầy đủ, các thông tin này cũng có thể quá phức tạp, vượt quá khả năng phân tích và tính toán của người ra quyết định. Vì vậy, chủ thể chỉ có thể dựa trên thói quen và quy luật.
  • Tính bất định (uncertainty): Các thông tin về thiết yếu hay xác suất của các sự kiện trong tương lai là bất khả định. Trong trường hợp này, chủ thể phải dựa vào thói quen từ những hành động trong quá khứ và các quy luật chung để đưa ra quyết định.
  • Khả năng nhận thức (cognition): Thông tin khi được đón nhận bởi chủ thể không toàn vẹn là một dữ kiện, mà sẽ được diễn dịch qua lăng kính chủ quan của người quyết định. Sự chủ quan này cũng bao gồm các trải nghiệm trước đó và các quy luật tiềm thức.
  • Học hỏi (learning): Học hỏi bao gồm cả quá trình nhận thức và quá trình thu thập kiến thức, là những quá trình có sự tiếp thu, định khung và sàng lọc thông tin bằng các tâm thế, thói quen, quy tắc đã định sẵn.
  • Giao tiếp (communication): Nhu cầu giao tiếp với các chủ thể khác cũng bao gồm việc sử dụng ngôn ngữ, lễ nghi, văn hoá, quy tắc phù hợp.

Sự duy lý trong giới hạn (bounded rationality)

Sự duy lý trong giới hạn là đóng góp của Herbert Simon vào cách phân tích hành vi chủ thể kinh tế trong các nhánh Kinh tế học phi chính thống. Herbert Simon phát biểu rằng, con người không hoàn toàn duy lý trong một môi trường thông tin khiếm khuyết. Con người bị giới hạn bởi khả năng tính toán, hiểu biết về hệ quả của các lựa chọn, và khả năng phán đoán giữa các mục tiêu. Trong những trường hợp tồn tại một trong ba khả năng trên, con người không tối ưu (optimise) mà chỉ thoả mãn (satisfice) thông qua các quyết định trong một phạm vi thông tin nhất định, với năng lực tính toán và tầm nhìn về tương lai nhất định. Vì thế, những lựa chọn này không nhất thiết là lựa chọn tối ưu trong tất cả các khả năng (global optimum), mà chỉ là lựa chọn tốt nhất xét trong tình huống đó.

Lý thuyết cú hích (nudge theory)

Khái niệm cú hích trở nên phổ biến sau khi cuốn sách “Cú hích” (Nudge) của Richard Thaler và Cass Sunstein được xuất bản vào năm 2008. Về cơ bản, cú hích là một cách kiến thiết các lựa chọn (choice architecture) để điều hướng hành vi con người theo một con đường định trước, mà không dùng đến các biện pháp cấm đoán, ép buộc, hay thay đổi khuyến khích về mặt kinh tế. Thaler và Sunstein nhấn mạnh rằng các cú hích thường là cách thiết kế lựa chọn ít tốn kém mà vẫn đảm bảo rằng việc từ chối các cú hích không quá khó khăn cho các đối tượng được nhắm đến. Một số cú hích nổi tiếng có thể kể đến như máy ATM luôn trả thẻ trước khi đưa tiền, mặc định tham gia bảo hiểm xã hội khi ký hợp đồng lao động, và tính năng nhắc người gửi đính kèm tệp tin khi trong thư có nội dung rằng sẽ có tệp tin đính kèm trên Gmail.

Một số nhà khoa học tiêu biểu

Dưới đây là danh sách một số tác giả tiêu biểu trong các ngành Kinh tế học tiến hoá, -hành vi, và -phức hợp. Ngoài những cái tên dưới đây, giới học giả còn công nhận thêm nhiều cái tên nữa, và nhiều công trình nghiên cứu nữa. Trong khuôn khổ bài viết, người viết chỉ liệt kê một số nhà khoa học được nhắc đến trong bài trong bảng dưới đây.

Bảng 6.  Một số nhà khoa học tiêu biểu

Nhà khoa học Công trình tiêu biểu
Karl Marx “Chủ nghĩa tư bản”, quyển I, II và III (Capitalism, volume I (1867), II (1885) and III (1894))
Thorstein Veblen “Lý thuyết về tầng lớp tiêu khiển” (The theory of the leisure class, 1899)

“Vì sao Kinh tế học không là một môn khoa học tiến hoá?” (Why is economics not an evolutionary science?, 1898)

Joseph Schumpeter “Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ” (Capitalism, socialism and democracy, 1942)

“Cách tiếp cận lịch sử đối với phân tích chu kỳ kinh doanh” (The historical approach to the analysis of business cycles, 1949)

“Lịch sử phân tích kinh tế” (History of economic analysis, 1954)

Herbert Simon “Hành vi hành chính: Nghiên cứu quá trình ra quyết định trong tổ chức hành chính” (Administrative behaviour: A study of decision-making processes in administrative organisation, 1947)

“Các lý thuyết về tính duy lý giới hạn” (Theories of bounded rationality, 1972)

“Các mô hình của tính duy lý giới hạn” (Models of bounded rationality, 1982)

Kenneth Boulding “Kinh tế học như một môn khoa học về đạo đức” (Economics as a moral science, 1969)

“Kinh tế học tiến hoá” (Evolutionary economics, 1983)

Sidney Winter và Richard Nelson “Lý thuyết tiến hoá về thay đổi kinh tế” (An evolutionary theory of economic change, 1982)
George Akerlof “Hợp đồng lao động như một hình thức trao đổi tặng vật” (Labour contracts as partial gift exchange, 1982)

“Tinh thần động vật: Cách tâm lý con người thúc đẩy nền kinh tế, và tầm quan trọng của nó với chủ nghĩa tư bản toàn cầu” (Animal spirit: How human psychology drives the economy, and why it matters for global capitalism, 2009), đồng tác giả với Robert Shiller

Daniel Kahneman “Lựa chọn, giá trị và định khung” (Choices, values and frames, 2000), đồng tác giả với Amos Tversky

“Tư duy nhanh và chậm” (Thinking, fast and slow, 2011)

Ha-Joon Chang “Lên gác rút thang” (Kicking away the ladder, 2002)
“23 điều họ không nói cho bạn biết về chủ nghĩa tư bản (23 things they don’t tell you about capitalism, 2010)

“Cẩm nang Kinh tế học cho người dùng” (Economics: The user’s guide, 2014)Geoffrey Hodgson“Cẩm nang thời hiện đại cho Kinh tế học tiến hoá và thể chế” (A modern reader for evolutionary and institutional economics, 2002)Daron Acemoglu và James Robinson

“Nguồn gốc kinh tế của nền độc tài và nền dân chủ” (Economic origins of dictatorship and democracy, 2006)

“Tại sao các quốc gia thất bại: Nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng và nghèo đói” (Why nations fail: The origin of power, prosperity and poverty, 2012)

Richard Thaler

“Cú hích: Cải thiện các lựa chọn liên quan đến sức khoẻ, sự giàu có và hạnh phúc” (Nudge: Improving decisions about health, wealth and happiness, 2009), đồng tác giả với Cass Sunstein

“Tất cả chúng ta đều hành xử cảm tính” (Misbehaving: The making of behavioural economics, 2015)

Cass Sunstein

“Thị trường tự do và công bằng xã hội” (Free markets and social justice, 1997)

“Vì sao dùng cú hích?” (Why nudge?, 2014)

 

Club Brisbane

Ngoài những nhà tư tưởng tiên phong trong Kinh tế học tiến hoá ở thế kỷ trước, ngày nay, cùng với sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ, nhiều ý tưởng mới cũng nổi lên trong nhánh này. Các nhà kinh tế học tiến hoá hiện đại như Kurt Dopfer, John Foster, Jason Potts, John Quiggin, hay Peter Earl đều đang hoặc đã từng giữ các vị trí nghiên cứu trọng yếu ở Đại học Queenland (The University of Queensland – UQ) ở Brisbane, Úc, tạo thành một hội những nhà kinh tế học phi chính thống thiên hướng tiến hoá, được gọi là Club Brisbane. Trong những năm 1999 – 2009, với nhân lực là những giáo sư kể trên, cùng sự tham gia tích cực của các tên tuổi khác trong ngành như Stan Metcalfe, Richard Nelson và Sidney Winter, UQ đã trở thành “đầu tàu” của Kinh tế học tiến hoá thời hiện đại.

Dưới đây là một số công trình đáng chú ý của Club Brisbane:

  • “Vi mô-trung dung-vĩ mô” (Micro-meso-macro, 2004) của Kurt Dopfer, John Foster và Jason Potts
  • “Vì sao Kinh tế học không là một môn Khoa học hệ thống phức hợp?” (Why is economics not a complex system science?, 2006), của John Foster
  • “Góc nhìn vi mô-trung dung-vĩ mô về phương pháp của Kinh tế học tiến hoá: Tích hợp lịch sử, mô phỏng và kinh tế lượng” (A micro-meso-macro perspective on the methodology of evolutionary economics: Integrating history, simulation and econometrics, 2009) của John Foster và Jason Potts
  • “Lý thuyết tăng trưởng tiến hoá” (Evolutionary growth theory, 2010) của John Foster và Stan Metcalfe
  • “Kinh tế học thây ma: vì sao những ý tưởng hết thời vẫn còn tồn tại với chúng ta” (Zombie economics: how dead ideas still walk among us, 2010) của John Quiggin
  • “Kinh tế học hành vi và chính sách công” (Behavioural economics and public policy, 2011) của Peter Earl
  • “Lý thuyết tổng quát về tiến hoá kinh tế” (The general theory of economic evolution, 2015) của Kurt Dopfer và Jason Potts
  • Thay đổi lối sống và quá trình lựa chọn lối sống” (Lifestyle changes and the lifestyle selection process, 2017) của Peter Earl

Tổng kết

Đến đây, bài viết này đã giới thiệu với người đọc về trường phái phi chính thống trong Kinh tế học, cụ thể là các nhánh Kinh tế học phức hợp, Kinh tế học hành vi, và nhất là Kinh tế học tiến hoá. Bắt đầu từ nguồn gốc và bối cảnh sơ lược của các nhánh, bài viết đã nêu ra ý tưởng chính của các trường phái phi truyền thống trong tương quan với các trường phái truyền thống, theo sau là một số ý tưởng chủ chốt trong các luồng tư tưởng mới này. Cuối cùng, bài viết cũng điểm qua một số nhà kinh tế học phi chính thống và những công trình tiêu biểu của họ.

Khi đọc qua các ý tưởng chính, có lẽ người đọc cũng thoáng có suy nghĩ rằng những ý tưởng trên thật ra không có gì mới mẻ; đối với những người không qua đào tạo cơ bản về Kinh tế học, không biết gì về các giả định đơn giản hoá của Kinh tế học chính thống về con người và nền kinh tế, thì những ý tưởng trên chính là những cái có thể dễ dàng quan sát hằng ngày, tự trong bản thân mỗi con người và ở những con người khác. Mỗi người trong chúng ta đều hiểu rõ phẩm chất và khả năng của mình: dễ bị tác động bởi môi trường, cả tin, hành động không lý trí, phức tạp, không lường trước được hệ quả sau này của những hành động hiện tại. Trong nền kinh tế, không khó khăn để nhận ra rằng các thông tin, kiến thức ngành, kinh nghiệm, mối quan hệ không phải lúc nào cũng có sẵn. Các thông tin, kiến thức có được cũng chỉ là kiến thức bài bản (codified knowledge) ở dạng quy trình, bản thảo, thiết kế, lời dạy; còn những kiến thức mang tính thực tiễn cao (tacit knowledge) như kinh nghiệm làm việc, bài học rút ra sau thất bại, hay sự lành nghề do nhiều năm thao tác, là dạng kiến thức, thông tin khó truyền đi được, hoặc mất rất nhiều thời gian và thử nghiệm mới gặt hái được. Vì vậy, chúng ta hiểu rất rõ rằng thông tin không thể luôn có sẵn và không tốn kém chút nào như dự đoán của trường phái truyền thống được.

Khi sức khoẻ nền kinh tế toàn cầu vẫn chưa hồi phục hoàn toàn sau nhiều cuộc khủng hoảng, suy thoái lớn nhỏ, chúng ta là thế hệ hiểu rất rõ rằng nền kinh tế không thể trở lại sôi động, thần tốc như trước khi những cú sốc đó diễn ra được. Những cuộc khủng hoảng nhỏ, mang tầm khu vực sau đó ở châu Âu, Nam Mỹ, Trung Quốc và Nga có thể được xem là dư chấn của năm 2008, cho thấy rằng sự kiện đó vẫn còn đeo bám vào nền kinh tế hiện tại, mặc dù đã 10 năm trôi qua. Khi ký ức về hậu quả nặng nề của cuộc khủng hoảng 2008 chưa phai thì người ta vẫn còn tâm lý dè chừng, cẩn thận trong chi tiêu và đầu tư. Như vậy, sự kiện đó đã khiến các quy luật trong nền kinh tế lệch sang một hướng khác so với ban đầu.

Mặc dù những điều này không có gì xa lạ trong đời sống, thật đáng ngạc nhiên là nhiều nhà hoạch định chính sách vẫn chưa có sự công nhận đúng đắn đối với những điều hiển nhiên này. Như David Nash nhận định trong “Thế giới mới phức hợp – Diễn dịch tư tưởng kinh tế học mới vào chính sách công”, việc hoạch định chính sách vẫn còn dựa vào Kinh tế học tân cổ điển là chủ yếu. Điều này có lẽ là do những lý thuyết truyền thống ra đời trong bối cảnh xã hội vẫn còn ít biến động nhanh và liên tục như thời nay, và do các lý thuyết truyền thống đã đưa ra những giả định khiến cho việc phân tích kinh tế trở nên đơn giản đi rất nhiều. Cần tỉnh táo về sự nhẹ nhàng, đơn giản mà các giả định đó mang lại, vì nó không phản ánh đúng bản chất của chủ thể kinh tế và nền kinh tế phức tạp, khó dự đoán và bất định của ngày nay.

Chính bởi lý thuyết sát với bản chất con người và nền kinh tế nên Kinh tế học tiến hoá, -hành vi và -phức hợp có khả năng cung cấp cách tiếp cận hữu ích trong việc phân tích kinh tế. Có ít nhất ba ý nghĩa có thể rút ra từ chúng:

Thứ nhất, không có một trạng thái cân bằng cho nền kinh tế. Kinh tế học phi chính thống đã khẳng định rằng, nền kinh tế không có xu hướng tiệm cận về một trạng thái cân bằng ngay cả sau khi những biến cố xảy ra, mà chuyển động và thay đổi không ngừng. Thêm nữa, Kinh tế học phi chính thống cung cấp góc nhìn về nền kinh tế như một hệ thống phức hợp tự thích ứng, di chuyển trên trục thời gian lịch sử tuyến tính, bất khả vãn hồi. Theo lẽ đó, những chính sách đã thành công trong quá khứ không nhất thiết sẽ hiệu quả khi được sử dụng cho cùng một vấn đề trong tương lai, bởi các quy luật trong xã hội đã có sự thay đổi đáng kể qua thời gian, nên chăng các nhà hoạch định chính sách cần có một cái nhìn ít máy móc hơn. Về cấu trúc, nền kinh tế cần được “thiết kế” sao cho vẫn có thể hồi phục sau các cú sốc nhờ vào sự phân tầng và tổ hợp các thành phần kinh tế, nhưng vẫn giữ được tính linh hoạt để có dư địa cho sự vận động, thay đổi.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách cũng cần lưu ý rằng, mỗi cá nhân đều là những bản thể mang theo một tập hợp các quy luật. Tập hợp này khác nhau giữa các cá nhân, nên có cả sự mâu thuẫn và giao thoa giữa các cá nhân với nhau. Điều này có nghĩa mỗi cá nhân là độc nhất và không thể có một chính sách nào có thể ảnh hưởng tất cả mọi người theo cách giống nhau, dẫn đến các hành vi giống nhau như mong muốn của nhà cầm quyền được. Luôn có sự phong phú, đa dạng, biến hoá trong cách các cá nhân phản ứng với tác động của chính sách. Bên cạnh đó, cần nhớ rằng mỗi con người, ngoài ý thức về luật pháp, còn mang trong mình cảm xúc, tâm lý riêng, cũng như có nền tảng văn hoá, đạo đức, hiểu biết, niềm tin riêng biệt; vì thế khi dùng một quy luật từ một khía cạnh luật pháp để điều hướng hành vi, cần hiểu rằng đối tượng đó còn mang trong mình rất nhiều quy luật khác. Vì thế, cần nhiều thời gian và công sức để điều hướng hành vi của đối tượng thành những hành vi mong muốn.

Thứ ba, mạng lưới là một cách tổ chức tốt. Ở đây, mạng lưới không chỉ ám chỉ một hệ thống với nhiều thành phần sắp xếp hỗn độn, vô tổ chức. Mạng lưới nói về hệ thống có trật tự và phân tầng, nhưng là một sự phân tầng cho phép tương tác và trao đổi cắt chéo các tầng với nhau. Từ thế kỷ trước, khái niệm “quản lý nhà nước kiểu mạng lưới” (network governance) đã phổ biến trong Khoa học quản lý công. Trong đó, hệ thống mạng lưới được dùng như ý tưởng chủ đạo trong việc sắp xếp và điều phối các cơ quan nhà nước, có sự phối hợp giữa nhiều thành phần trong xã hội đến từ khu vực tư nhân, khu vực hàn lâm và khu vực phi chính phủ. Quản lý nhà nước kiểu mạng lưới được xem là hiệu quả hơn trong việc đáp ứng nhu cầu chính sách do phương pháp này cho phép các luồng thông tin và nguồn lực được lưu thông tốt hơn, hữu ích cho việc hiểu về vấn đề chính sách, đối tượng chính sách và giúp thiết kế chính sách sâu sát hơn.

Cuối cùng, để kết thúc bài viết này, tác giả xin giới thiệu một số nguồn để tìm hiểu thêm về ba nhánh Kinh tế học tiến hoá, -hành vi và -phức hợp, ngoài các sách và bài nghiên cứu của các nhà kinh tế đã được nhắc trong bài:

Nguồn tham khảo

Akerlof, G. A. (1982). Labor contracts as partial gift exchange. The quarterly journal of economics, 97(4), 543-569.

Bausor, R. (1982). Time and the structure of economic analysis. Journal of Post Keynesian Economics5(2), 163-179.

Bausor, R. (1984). Toward a historically dynamic economics: examples and illustrations. Journal of Post Keynesian Economics6(3), 360-377.

Boulding, K. E. (1983). Evolutionary economics.

Market-Towler, B. (2017). What is Evolutionary Economics? From https://medium.com/@brendanmarkeytowler/what-is-evolutionary-economics-ce1dc62b74c4

Markey-Towler, B. (2017). What is an economy? From https://medium.com/@brendanmarkeytowler/what-is-an-economy-1ee0213dd4a

Callebaut, W. (2007). Herbert Simon’s silent revolution. Biological Theory, 2(1), 76-86.

Chang, H. J. (2014). Economics: the user’s guide (Vol. 1). Bloomsbury Publishing USA.

Dopfer, K., Foster, J., & Potts, J. (2004). Micro-meso-macro. Journal of Evolutionary Economics14(3), 263-279.

Dopfer, K., & Potts, J. (2015). The general theory of economic evolution. Routledge.

Earl, P. (2017). Lecture 4: Veblenian Economics [PowerPoint Slides]Retrieved from The University of Queensland Evolution of Economic Systems Blackboard: http://learn.uq.edu.au.

Foster, J. (2006). Why is economics not a complex systems science?. Journal of Economic Issues, 40(4), 1069-1091.

Hallsworth, M. (2012). How complexity economics can improve government: rethinking policy actors, institutions and structures. Complex new world: translating new economic thinking into public policy, London: IPPR (Institute for Public Policy Research), 39-49.

Hodgson, G. M. (1997). The ubiquity of habits and rules. Cambridge journal of economics, 21(6), 663-684.

Hodgson, G. M. (2012). Business Reform: Towards an Evolutionary Policy Framework. Complex new world: translating new economic thinking into public policy, London: IPPR (Institute for Public Policy Research), 62-69.

Jolls, C., Sunstein, C. R., & Thaler, R. (1998). A behavioral approach to law and economics. Stanford law review, 1471-1550.

Lent, A., & Fisher, G. (2012). A complex approach to economic policy. Complex new world: translating new economic thinking into public policy, London: IPPR (Institute for Public Policy Research), 161-168.

Leonard, D., & Sensiper, S. (1998). The role of tacit knowledge in group innovation. California management review40(3), 112-132.

Ormerod, P. (2012). Networks and the need for a new approach to policymaking. Complex new world: translating new economic thinking into public policy, London: IPPR (Institute for Public Policy Research), 28-38.

Robinson, J. (1980). Time in economic theory. Kyklos33(2), 219-229.

Shackle, G. L. S. (2010). Decision order and time in human affairs. Cambridge University Press.

Silim, A. (2012). What is new economic thinking?. Complex new world: translating new economic thinking into public policy, London: IPPR (Institute for Public Policy Research), 18-27.

Simon, H. A. (1972). Theories of bounded rationality. Decision and organization, 1(1), 161-176.

Simon, H. A. (1991). The architecture of complexity. In Facets of systems science (pp. 457-476). Springer, Boston, MA.

Thaler, R. H., & Sunstein, C. R. (1999). Nudge: Improving decisions about health, wealth, and happiness. New Haven, CT Yales University Press.

Veblen, T. (1898). Why is economics not an evolutionary science?. The quarterly journal of economics12(4), 373-397.

Westlake, S. (2012). Innovation and the new economics: some lessons for policy. Complex new world: translating new economic thinking into public policy, London: IPPR (Institute for Public Policy Research), 82-94.

[1] Tên gốc: “Complex New World – Translating new economic thinking into public policy” (2012): https://www.ippr.org/publications/complex-new-world-translating-new-economic-thinking-into-public-policy.

[2] Tên gốc: Institute for Public Policy Research, là một think-tank cánh tả cấp tiến ở Anh, chuyên nghiên cứu và tham mưu chính sách dựa trên ý tưởng về một thế giới bình đẳng, dân chủ và bền vững: https://www.ippr.org.

[3] Mặc dù tư tưởng của Keynes vẫn thường được nhắc đến như một bộ phận trong Kinh tế học chính thống, John Foster cho rằng Keynes mang hơi hướm phi chính thống nhiều hơn, hoặc ít ra là “tích hợp tân cổ điển”. Đọc thêm bài nghiên cứu “Vì sao Kinh tế học không là một môn Khoa học hệ thống phức hợp?” (Why is economics not a complex system science?, 2006) của ông.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s