Mô hình ‘chính phủ kiến tạo’ của Hàn Quốc và bài học cho Việt Nam – Nguyễn Trung Hiếu

  1. Lời giới thiệu

Nền kinh tế Hàn Quốc nổi tiếng với sự phát triển thần kì kể từ thập nên 60 thế kỉ trước, cho dù đất nước bị tàn phá nặng nề trong thời kì làm thuộc địa của Nhật Bản (1910 – 1945) và cuộc nội chiến kéo dài trong suốt ba năm (1950 – 1953). Mặc dù có được nền hòa bình từ năm 1953, bán đảo Triều Tiên vẫn luôn nằm trong tình trạng bất ổn với hai miền chia cắt tại vĩ tuyến 38. Vào thời điểm đó, Hàn Quốc là một trong những quốc gia nhèo nhất thế giới với nền kinh tế nông nghiệp và sự thiết hụt cơ sở hạ tầng trầm trọng. Hàn Quốc thậm chí sở hữu ít tài nguyên thiên nhiên với chỉ 30% diện tích đất là có thể canh tác, xã hội bị tách biệt khỏi phương Tây cho đến cuối thể kỉ XIX. GDP bình quân đầu người chỉ đạt 70 đô la Mĩ vào năm 1954, cùng với tỉ lệ tiết kiệm quốc nội thấp. Đất nước Hàn Quốc phải dựa vào viện trợ nước ngoài để tồn tại. Các nhà hoạch định chính sách Mĩ cho rằng đất nước này là một ‘trường hợp vô vọng’ (Hart-Langsberg, 1993). Hàn Quốc phải đối mặt với rất nhiều rào cản để phục hồi đất nước như tàn dư của thời kì thuộc địa và nội chiến, bất ổn chính trị và sự thiếu hụt nguồn lực vật chất và con người. Đất nước hoàn toàn suy đồi về kinh tế.

Tuy vậy, nền kinh tế Hàn Quốc lại cho thấy thực tế hoàn toàn ngược lại với sự trỗi dậy thần kì từ năm 1960. Làn sóng cải cách mạnh mẽ đã khiến Hàn Quốc trở thành một cường quốc về công nghiệp và các dịch vụ tối tân. Hàn Quốc hiện đang là nền kinh tế lớn thứ 12 thế giới, với tổng giá trị GDP vào 1,69 nghìn tỉ đô la Mĩ, với GDP đầu người ước đoán vượt mức 30,000 đô la Mĩ vào năm nay. (IMF DataMapper, truy cập ngày 15 tháng 5, 2018) Hàn Quốc trở thành hình mẫu lí tưởng cho một quốc gia phát triển với xuất phát điểm là một trong các nước thuộc Thế giới Thứ Ba (the Third World).

Trong thời kì phát triển được gọi là ‘kì tích’ này (Lucas, 1993), chính phủ Hàn Quốc đã cho thấy vai trò to lớn trong việc định hướng nền kinh tế. Chính phủ đã có một tầm nhìn dài hạn đúng đắn về phát triển kinh tế, các chính sách được ban hành cũng như các cải cách xã hội. Hàn Quốc đã tận dụng khôn ngoan các điều kiện trong và ngoài nước, cùng với nguồn lực tư nhân để hướng tới mục tiêu quốc gia. Các tập đoàn chaebol, các tập đoàn tài phiệt bao gồm nhiều công ty hoạt động trên nhiều lĩnh vực nằm dưới sự điều hành của một gia tộc, được cho là trở thành ‘các công cụ tư nhân phục vụ cho mục đích của chính quyền’ (Woo, 1991). Chính phủ Hàn Quốc không chỉ sử dụng các chaebol mà còn hỗ trợ và thúc đẩy chúng vì lợi ích quốc gia.

Theo thời gian, thế giới trải qua những thay đổi đáng kể. Thêm vào đó, mỗi quốc gia lại có một mục tiêu và các khó khăn khác nhau. Những điều trên làm kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc không mang nhiều giá trị như nhiều người vẫn tưởng. Tuy vậy, những hiểu biết về mô hình phát triển này vẫn sẽ mang nhiều lợi ích cho bất cứ nước đang phát triển nào. Việt Nam và Hàn Quốc có lịch sử khá giống nhau: trải qua thời kì thuộc địa, chiến tranh và tái xây dựng trong hoàn cảnh ngặt nghèo. Việt Nam chỉ thực hiện cải cách kinh tế từ năm 1986 nhưng thu được những số liệu đáng mừng. Dù vậy, chính phủ Việt Nam vẫn phải đối mặt hàng loạt vấn đề trong nước và quốc tế. Bài viết trước hết phân tích quá trình phát triển kinh tế Hàn Quốc từ 1953 với mô hình ‘chính phủ kiến tạo’, sau đó đưa ra bốn yếu tố quan trọng góp phần tạo nên ‘Kì tích sông Hàn’, và cuối cùng là một số bài học cho Việt Nam.

  1. 2. Kinh tế Hàn Quốc từ năm 1953: mô hình ‘chính phủ kiến tạo’

Đã có rất nhiều nghiên cứu nhằm lí giải sự tăng trưởng mạnh mẽ của Hàn Quốc. Các nghiên cứu dẫn tới nhiều lí giải khác nhau, nhưng nổi bật hơn cả là cơ chế phát triển theo định hướng của chính phủ, hay còn được gọi là mô hình ‘chính phủ kiến tạo’ (Amsden, 1992; Evans, Rueschemeyer and Skocpol, 1985; Heo and Kim, 2000). Cách tiếp cận này nhấn mạnh vai trò chính phủ trong việc đề xướng và thực hiện các chính sách kinh tế (Caporaso and Levine, 1992). Đồng thời, sự hợp tác giữa chính phủ và các thành phần kinh tế xã hội chính, như các chaebol, cũng rất quan trọng. Khi các nhân tố này hoạt động dựa theo lợi ích của mình, chúng tìm cách tác động lên chính sách, trong khi chính phủ cũng cần sự ủng hộ to lớn đối với các chính sách công nghiệp hóa (Haggard and Moon, 1990). Chính phủ Hàn Quốc đã ổn định đất nước và đạt được thành công rực rỡ về tăng trưởng kinh tế cũng như chia sẻ lợi ích với các lực lượng chủ đạo trên (Leipziger, 1997). Có thể thấy rằng, nhà nước luôn đảm bảo sự liên kết với các lực lượng kinh tế, xã hội cũng như duy trì khả năng đàm phán và tái đàm phán về các chính sách và mục tiêu quốc gia.

2.1. Tái thiết nền móng quốc gia (1954 – 1960)

Vào thời kì này, kinh tế Hàn Quốc chủ yếu dựa vào Mĩ khi cả nước vừa trải qua một cuộc nội chiến tàn khốc từ năm 1950 đến năm 1953. Ngành kinh doanh chính tập trung vào trao đổi hàng hóa. Sản xuất vẫn chưa thể phát triển bởi sự thiếu hụt công nghệ và nhu cầu thị trường (Sig Choi, Michell and Palihawadana, 2008). Các chính sách kinh tế tập trung vào việc thiết lập một nền kinh tế thị trường, tái cơ cấu quyền sở hữu và tận dụng viện trợ từ Mĩ.

Chính phủ Hàn Quốc ưu tiên thiết lập một hệ thống thị trường tự do như là gốc rễ của nền kinh tế. Chính phủ ban hành Quyền Sở hữu Tài sản Tư nhân và bán đi những tài sản từng thuộc về chính phủ thuộc địa Nhật Bản và Bắc Triều Tiên. Các cựu nhân viên của công ty bị tịch thu trở lại làm việc với vai trò quản lí (Kim, 2013). Quốc Hội đã hành động để buộc các địa chủ bán đất của mình cho chính phủ và các nông dân tự do trong một động thái cải cách nông nghiệp. Chính phủ với hệ thống chính sách can thiệp sâu rộng đã cùng các doanh nghiệp tư nhân hướng tới nền kinh tế phát triển (Kim, 2013).

Sau chiến tranh, viện trợ nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tình trạng thiếu hụt hàng hóa và tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tích lũy vốn. Hàn Quốc nhận tổng cộng 3.137 triệu đô la viện trợ từ  trong giai đoạn 1945 – 1961. Giá trị của chúng chiếm đến gần 80% thu nhập của chính phủ. Chiến tranh đã là thời kì hoàng kim của các doanh nghiệp phục vụ hậu cần cho quân đội Liên Hợp Quốc. Khi chiến tranh kết thúc, ngành xây dựng vào cuộc với công cuộc tái thiết đất nước, là một mở đầu cho sự thâm nhập thị trường nước ngoài sau này (Kim, 2013).

Tại thời điểm sau chiến tranh, Hàn Quốc dựa vào thương mại để đáp ứng nguồn cung hàng hóa. Ngoại thương dần dần phát triển và vươn tới Mĩ và Tây Âu. Các công ty quốc nội phát triển bằng cách đa dạng hóa các ngành nghề kinh doanh, chính là điểm khởi đầu của các chaebol. Các công ty thương mại nhanh chóng trở thành cốt lõi của mỗi chaebol theo chính sách tập trung xuất khẩu. Các công ty này giúp các chaebol tích lũy tài sản với việc tận dụng hạn ngạch nhập khẩu. Một số công ty nổi danh thời bấy giờ là Samho Trading, Dongah Sangsa, Bando Sangsa (LG), Hwashin Sanup, v.v.

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc lại không khả quan. Nạn tham nhũng, bất ổn chính trị và mối đe dọa chiến tranh với Bắc Triều Tiên đã làm các nhà đầu tư không mặn mà với Hàn Quốc. Bù lại, chính quyền tổng thống Rhee Syngman sở hữu nhiều con người tài năng trong lĩnh vực kinh tế, giáo dục và tài chính. Hàn Quốc cũng triển khai chương trình đưa sinh viên sang Mĩ học tập trong nhiều lĩnh vực để phục vụ công cuộc tái thiết đất nước. Năm 1958, chính phủ thiết lập Hội đồng Phát triển Kinh tế để xây dựng các kế hoạch dài hạn. Tuy vậy với sự sụp đổ của chính quyền Rhee vào năm 1960, hội đồng này chưa từng phát huy bất cứ vai trò gì.

Nền kinh tế Hàn Quốc trong giai đoạn này phải đối mặt rất nhiều vấn đề và trải qua giai đoạn hồi phục chậm chạp. Mặc dù vậy, chính phủ đã thành công trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường và tạo ra nền tảng cho quá trình phát triển kinh tế dài hạn. Đây là những yếu tố đóng góp quan trọng cho giai đoạn phát triển thần kì của Hàn Quốc.

2.2. Tăng trưởng kinh tế dưới nền chính quyền độc tài (1961 – 1979)

Năm 1961, tướng Park Chung Hee lên nắm quyền sau một cuộc đảo chính quân sự. Chính quyền Park không có ý tưởng rõ rệt về cách điều hành nền kinh tế, họ chỉ có một quyết tâm duy nhất là đưa đất nước ra khỏi tình trạng đói nghèo. Tổng thống Park và Quốc hội mong muốn Hàn Quốc ‘có lòng tự tôn với việc là một quốc gia có chủ quyền, độc lập, tự do và dân chủ’, trái ngược với hiện thực rằng đất nước đang phụ thuộc nặng nề vào Mĩ với nguồn tài trợ tương đương hơn một nửa ngân sách chính phủ. Tổng thống Park đã nhận xét rằng Mĩ nắm giữ ’52% phiếu bầu của Hàn Quốc’ (Park, 1970). Thêm vào đó, chính quyền cũng gặp áp lực khi đất nước nằm trong cuộc đua tái thiết với Bắc Triều Tiên. Chính phủ phải tăng cường can thiệp vào nền kinh tế để bảo vệ nền công nghiệp quốc nội cũng như cải thiện vị thế Hàn Quốc trên thị trường toàn cầu (Leipziger, 1997).

Mục tiêu trên được chính phủ giải quyết thông qua chiến lược công nghiệp hóa chú trọng xuất khẩu. Năm 1962, Hàn Quốc thực hiện kế hoạch 5 năm đầu tiên. Chính phủ hỗ trợ các ngành công nghiệp cơ bản và đầu tư và cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Mục tiêu của kế hoạch là tạo ra các nhân tố cần thiết cho nền kinh tế thiên về xuất khẩu. Sau khi hoàn thành vào năm 1967, kế hoạch 5 năm lần thứ hai ưu tiên đẩy mạnh giá trị xuất khẩu. Do vẫn còn thiếu vốn và công nghệ, chính phủ ban đầu đẩy mạnh các ngành công nghiệp có hàm lượng lao động lớn, chủ yếu là các ngành công nghiệp nhẹ. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Hàn Quốc dần chuyến trọng tâm sang phát triển công nghiệp hóa chất và công nghiệp nặng (Heavy-Chemical Industry – HCI).

Kế hoạch 5 năm lần hai đã mang lại bộ mặt hoàn toàn mới: vào giai đoạn 1961 – 1971, giá trị xuất khẩu tăng gần 28 gần (từ 41 triệu đô la Mĩ lên 1113 triệu đô la Mĩ) và tỉ lệ tiết kiệm quốc nội tăng lên 60,9% từ 21,6% GNP. (Harvie and Lee, 2003) Chính sách chú trọng xuất khẩu này mang lại nhiều hiệu ứng tích cực: trước tiên giúp các ngành công nghiệp nhẹ đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, đưa sản phẩm quốc nội đạt tiêu chuẩn quốc tế cũng như tăng tỉ trọng của khu vực công nghiệp ngang bằng với nông nghiệp.

Những thay đổi trong nền kinh tế đòi hỏi chính phủ tổng thống Park đưa ra các chính sách mới, điều đã được thực hiện ở kế hoạch 5 năm lần thứ ba. Có 5 ngành công nghiệp HCI được tập trung phát triển: hóa chất, luyện kim, sản xuất máy móc, đóng tàu và linh kiện điện tử với mức đầu tư lên đến 9 tỉ đô la Mĩ. Bởi tính tốn kém và mạo hiểm của nó, mối liên hệ giữa chính phủ và doanh nghiệp càng thêm chặt chẽ.

Trong quá trình thực hiện các chính sách này, chính phủ Hàn Quốc phải kiểm soát giới tài chính và quản lí tỉ giá để ổn định xuất khẩu. Chính quyền tổng thống Park sở hữu các ngân hàng lớn thời bấy giờ để hỗ trợ việc ban hành trợ cấp chính phủ và phân bố tín dụng. Thánh 9 năm 1965, chính phủ ban hành đạo luật giới hạn lãi suất ngân hàng. Đạo luật này đã mang lại hiệu quả tích cực lên nền kinh tế: chính phủ có thể thu được nguồn lực tài chính đáng kể từ khu vực tư nhân sang ngân hàng, nhờ đó gia tăng tỉ lệ tiết kiệm quốc nội, từ khoảng 1 đến 2% vào thập niên 60 lên 7% vào thập niên 70. Thêm vào đó, chính phủ có thể phá giá đồng won để đẩy mạnh xuất khẩu. Tổng thống Park đã không bỏ qua khả năng này và thu được vài kết quả khả quan nhưng còn hạn chế bởi gánh nặng trợ cấp chính phủ và Hàn Quốc cần nhập khẩu lượng lớn nguyên liệu thô.

2.3. Dân chủ hóa và Toàn cầu hóa (1980 – 1997)

Vụ ám sát tổng thống Park, nhà lãnh đạo Hàn Quốc trong gần hai thập kỉ, vào năm 1979 khiến Hàn Quốc rơi vào hỗn loạn. Chun Doo-whan, một lãnh đạo từ giới quân đội, lên nắm quyền bất chấp niềm mong mỏi về một đất nước Hàn Quốc dân chủ. Nhiều động thái đối lập trong nước đã diễn ra và đạt đến đỉnh điểm vào năm 1980 khi quân đội Hàn Quốc giết hàng trăm dân thường để trấn áp cuộc biểu tình. Cho dù sau đó tướng Chun lên nắm quyền tổng thống thông qua một cuộc bầu cử vào năm 1981, Hiến pháp Hàn Quốc đã được sửa đổi để giới hạn mỗi tổng thống chỉ được tại vị một nhiệm kì duy nhất với thời gian 7 năm.

Chính quyền tổng thống Chun phải đối mặt với nhiều vấn đề kinh tế lúc bấy giờ do cuộc Khủng hoảng Dầu mỏ 1973 với tỉ lệ lạm phát cao và các kết quả bất lợi từ chính sách tập trung HCI. Cơ cấu kinh tế dựa trên các chaebol dẫn tới sự bất bình đẳng thu nhập và tài sản. Chính phủ đã ban hành các chính sách để giữ nền kinh tế tiếp tục đà tăng trưởng, như là phương tiện để tái ổn định đất nước sau những giao tranh chính trị.

Chính quyền tổng thống Chun ghi nhận mức độ nghiêm trọng của tỉ lệ lạm phát và áp dụng chính sách tài khóa chặt chẽ, chẳng hạn như tạm ngừng chi tiêu công vào năm 1984, tăng lãi suất và giảm tín dụng (Haggard and Moon, 1990). Hệ quả là thâm hụt ngân sách giảm mạnh. Ngân hàng Trung Ương Hàn Quốc đã mô tả đây là ‘thời kì giá cả ổn định’.

Tổng thống Chun mong muốn nền kinh tế bớt phụ thuộc hơn vào chaebol và các ngành công nghiệp HCI, khi ông công bố Chính sách Hạn chế Tập trung Kinh tế vào năm 1980. Chính sách này có mục đích tái cấu trúc nền kinh tế Hàn Quốc, tái phân bổ nguồn lực cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra, chính phủ đánh giá lại độ hiệu quả chung của nền kinh tế và mạnh dạn loại bỏ các công ty thua lỗ. Sự can thiệp nhà nước giảm dần sau khi cải cách chính sách thuế để hỗ trợ các ngành công nghiệp xuất khẩu. Các chaebol bị hạn chế mức trần tín dụng. Chính sách này giúp cân bằng mối quan hệ giữa các doanh nghiệp lớn và nhỏ (Lee, 1997).

Các động thái trên đã đưa nền kinh tế Hàn Quốc trở lại với đà phát triển. Trung bình tỉ lệ tăng trưởng kinh tế hằng năm dưới thời tổng thống Chun (1981 – 1987) là 8,7%, đáng kinh ngạc so với con số 1,5% vào năm 1980, GDP quốc nội đạt 100 tỉ đô la Mĩ. Nghiên cứu bởi Evans, Rueschemeyer và Skocpol (1985) chỉ ra rằng các chính sách kinh tế dưới thời tổng thống Chun được thực hiện dễ dàng nhờ có sự tự chủ mạnh mẽ của nhà nước.

Kinh tế Hàn Quốc phải đối mặt với một môi trường hoàn toàn mới sau khi dân chủ hóa năm 1987. Chính quyền Roh Tae-woo tập trung phát triển hệ thống phúc lợi xã hội thông qua chính sách nhà ở và kế hoạch sức khỏe quốc gia. Trung bình 200,000 căn nhà mới được xây dựng mỗi năm. Luật về mức lương tối thiểu được thông qua để giảm thiểu khoảng cách giàu – nghèo. Tuy nhiên, sự đầu tư đồ sộ này làm gia tăng gánh nặng lên ngân sách quốc gia, kèm theo đó là sự gia tăng về số lượng của các liên đoàn lao động cũng như mâu thuấn người lao động – quản lí. Các liên đoàn lao động tổ chức đình công để đòi hỏi tăng lương, giảm giờ làm và cải thiện điều kiện lao động, trong khi tầng lớp quản lí không chấp nhận, dẫn tới những tranh chấp kéo dài, khiến cho hoạt động sản xuất bị ngưng trệ. Tuy vậy, chính quyền Roh Tae-woo quyết định không can thiệp vào thị trường lao động, khiến cho năng suất lao động giảm nghiêm trọng (1987 – 1989).

Để tiếp tục các hoạt động kinh tế, yêu cầu tăng lương của các liên đoàn được đáp ứng. Mức lương tăng cao khiến tỉ lệ lạm phát cũng cao tương ứng, dẫn đến mất lợi thế cạnh tranh và làm chậm lại tăng trưởng kinh tế. Ví dụ từ năm 1987 đến 1989, mức lương trung bình của lao động Hàn Quốc tăng 46,6%, trong khi ở Mĩ chỉ tăng 0,1%, hay 9,8% ở Nhật Bản. Tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cũng giảm xuống 6,4% vào năm 1989 so với trung bình 14,4% trong giai đoạn 1985 – 1990, một sự sụt giảm đáng kể.

May thay, môi trường bên ngoài lại ủng hộ nền kinh tế Hàn Quốc: Liên Bang Xô Viết sụp đổ, Trung Quốc quyết định mở cửa thị trường. Các công ty Hàn Quốc nhanh chóng nắm bắt thời kì toàn cầu hóa này để gia nhập các thị trường mới giàu tiềm năng. Chính phủ cũng thông qua dự luật tái cơ cấu lao động với 3 điểm chính: hợp pháp hóa việc sa thải bởi quản lí, chính sách giờ làm linh hoạt và cải thiện cơ cấu lao động. Động thái này của chính phủ đã giải quyết các mâu thuân đương thời. Chính quyền Kim Young-sam thúc đẩy sự hội nhập của kinh tế Hàn Quốc vào thập niên 90. Chính phủ áp dụng chính sách giao dịch tài chính và đứng tên sở hữu bằng tên thật. Động thái này cực kì hợp lí khi việc mượn tên để trốn thuế đã trở thành vấn nạn thời bấy giờ. Chính quyền Kim cũng thực hiện tự do hóa tỉ giá ngoại hối, đầu tư trực tiếp nước ngoài và bảo hiểm. Các chính sách trên đánh dấu năm 1990 như là điểm khởi đầu của quá trình toàn cầu hóa ở Hàn Quốc (Kim, 2013).

2.4. Cuộc Khủng hoảng Tài chính Châu Á và quá trình phục hồi (1997 – 2007)

Dấu hiệu của cuộc khủng hoảng tài chính xuất hiện ở Hàn Quốc từ giữa thập niên 90. Đến năm 1997, nợ nước ngoài của các ngân hàng Hàn Quốc đã đạt 24% GNP. Chưa hết, số nợ ngắn hạn lên tới 350% dự trữ ngoại hối. Các chaebol có tỉ lệ nợ trên tổng vốn sở hữu trung bình là 400%, một con số khổng lồ so với 70% của các tập đoàn ở Mĩ, các điều kiện trên không gì hơn là dự báo cho sự sụp đổ tài chính (Laurence, 1999). Cuối năm 1997, năm tập đoàn kinh doanh lớn với khoảng 100,000 nhân viên tuyên bố phá sản dẫn tới sự rút vốn của các nhà đầu tư. Trong vòng sáu tháng, gần 15,000 doanh nghiệp giải thể và nửa triệu người rơi vào trạng thái thất nghiệp (Song, 2003).

Khoản vay lớn từ IMF đã không thể cứu vãn Hàn Quốc khi tỉ lệ tăng trưởng kinh tế âm 6% vào năm 1998 và tỉ lệ thất nghiệp lên tới 8%. Điều này gây áp lực lớn lên chính phủ mới thành lập bởi Tổng thống Kim Dae-jung. Để đáp ứng được yêu cầu của IMF cho các khoản hỗ trợ tiếp theo, chính quyền Kim đưa ra các chính sách mới dựa trên tư vấn của IMF. Chính phủ Hàn Quốc thực hiện các biện pháp cắt giảm chi tiêu, tăng lãi suất tiết kiệm và thuế. Các chính sách này gây hậu quả nặng nề lên các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời vẫn không làm suy giảm tình trạng thất nghiệp. Trong lĩnh vực tài chính, chính phủ thể chế hóa các giao dịch tài chính và loại bỏ giới hạn đầu tư FDI ở Hàn Quốc để thu hút đầu tư nước ngoài. Tổng thống Kim cũng loại bỏ các mắt xích yếu của chaebol bằng cách sáp nhập chúng để hình thành các công ty mới. Ví dụ, Kia Motors được mua lại bởi Huyndai Motors, bộ phận bán dẫn của LG sau đó cũng thuộc về Huyndai, bộ phận năng lượng của Samsung Heavy Industries và Huyndai Industries bị sáp nhập vào Hansung (Heo and Woo, 2006). Chính phủ thông qua Đạo luật Kiểm toán Độc lập của các Công ty Chứng khoán bắt buộc chaebol phải gửi báo cáo tài chính hàng năm và bị kiểm toán bởi một công ty kế toán được công nhận hai lần một năm.

Sau khi đắc cử vào năm 2003, Tổng thống Roh Moo-hyun nắm giữ nền kinh tế Hàn Quốc đã hoàn thành trả nợ cho IMF với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong số các thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OCED). Từ các kinh nghiệm trước đó, Hàn Quốc gia tăng dự trữ ngoại hối từ 20,4 tỉ đô la Mĩ vào năm 1997 lên 206,1 tỉ đô la Mĩ vào năm 2006, đứng thứ năm trên thế giới. Trái với sự phục hồi nhanh chóng, nền kinh tế Hàn Quốc vẫn tiềm ẩn vài vấn đề do các chính sách ngắn hạn. Sự khuyến khích tín dụng trước đây lại trở thành nguyên nhân cho tình trạng tín dụng xấu. Cách tiếp cận ngắn hạn trong các chính sách là hệ quả trực tiếp từ Hiến pháp giới hạn tổng thống chỉ có duy nhất một nhiệm kì 5 năm. Tổng thống tại vị chỉ chú trọng các hiệu quả tức thời và để lại cái giá cho người kế nhiệm. Một vấn đề khác là sự thoái trào của đầu tư quốc nội, khi các công ty trong nước thực hiện lưu động vốn nước ngoài để phản ứng với sự gia tăng của chi phí lao động và tình trạng đình công liên tục. Một giai đoạn tăng trưởng kinh tế chậm chạp tiếp diễn với trung bình 4,4% dưới nhiệm kì Tổng thống Kim Dae-jung và 4,6% dưới thời Tổng thống Roh Moo-hyun. Khi xem lại các con số dưới thời các lãnh đạo trước đó như Chun Doo-wan, Roh Tae-woo và Kim Young-sam: 8,7%, 8,4%, và 7,1%, kinh tế Hàn Quốc đã tăng trưởng chậm một cách đáng ngạc nhiên. Tỉ lệ dân cư sống trong cảnh nghèo đói tăng lên 12% (Hahm and Lee, 2007). Chính quyền Roh phải đối mặt với vô vàn vấn đề là hậu quả bởi chính sách của người tiền nhiệm Kim Dae-jung, người chỉ chú trọng và việc phục hồi từ cuộc khủng hoảng 1997 – 1998.

2.5. Đại Suy thoái và một thời kì kinh tế mới (hậu 2007)

Hàn Quốc là một trong những quốc gia châu Á chịu ảnh hưởng nặng nhề nhất bởi cuộc Đại Suy thoái. Mặc dù có các điều kiện để đứng vững trước một cuộc khủng hoảng: dự trữ ngoại hối lớn, khung chính sách tốt và ít tài sản xuất xứ từ các ngân hàng phương Tây; nền kinh tế trọng thương và quá trình toàn cầu hóa đã ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường. Thị trường ngoại hối chịu ảnh hưởng khi các nhà đầu tư ngoại quốc rút tiền ra khỏi Hàn Quốc. Tính đến cuối tháng 11 năm 2008, đồng won đã mất giá hơn 25,4% so với đô la Mĩ. Giá cổ phiếu cũng giảm 27,2%. Nền kinh tế lại đối mặt với nguy cơ từ các khoản nợ ngắn hạn với giá trị lên tới 79,1% dự trữ ngoại hối, so với chỉ 30% vào năm 2005.

Chính phủ Lee Myung-bak phản ứng với các chính sách tài khóa và tiền tệ chủ động. Chính phủ đưa ra gói kích thích tài chính trị giá 4% GNP Hàn Quốc, lãi suất giảm từ 5,25% xuống 2%. Tổng thống Lee tiếp cận cuộc khủng hoảng bằng nhiều biện pháp đồng thời. Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng với việc tăng chi tiêu tài chính và hỗ trợ thuế, ngoài ra còn mở rộng thủ tục miễn thuế để thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng quốc nội (Kim, 2014). Cùng với cải cách tài chính, nhà nước còn thực hiện tái cơ cấu kinh doanh, với các ngân hàng làm động cơ chính. Ngân hàng phân loại các công ty thành bốn nhóm thông qua quá trình đánh giá khách quan, và tiến hành tái cấu trúc các công ty bị xếp hạng kém. Các công ty lớn được khuyến nghị cải thiện cơ cấu tài chính theo hợp đồng với ngân hàng. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính phủ Lee thực hiện chính sách theo dõi nhanh để hỗ trợ (Kim, 2014).

Sự hiệu quả các chính sách này đưa nền kinh tế Hàn Quốc hồi phục nhanh chóng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ chỉ 0,7% vào năm 2009 tăng lên 6,5% vào năm 2010. (World Bank data, truy cập ngày 18 tháng 5, 2018)

Tuy vậy chính sự phục hồi nhanh chóng này khiến cho đồng won tăng giá mạnh khi dòng vốn đảo ngược đột ngột. Nền kinh tế trọng xuất khẩu bị đe dọa nghiêm trọng. Chính quyền Lee áp dụng mức trần 125% cho các giao dịch ngoại hối. Các ngân hàng buộc phải sở hữu một số trái phiếu được xếp hạng cao bởi các tổ chức quốc tế như Standard & Poor’s hay Moody’s Investors Service. Các quy định thanh khoảng ngoại tệ bị thắt chặt, chính phủ bắt đầu áp dụng quy trình kiểm soát vốn.

Hiện tại, Hàn Quốc nổi tiếng với các tập đoàn chaebol với quy trình chuyên nghiệp và sản phẩm chất lượng. Các sản phẩm Hàn Quốc nhận được đánh giá cao từ người tiêu dùng toàn cầu. Từ một quốc gia nhỏ, nghèo tài nguyên thiên nhiên, Hàn Quốc đã trở thành một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới. Tuy vậy, Hàn Quốc chỉ được xếp hạng 26 trên tổng số 137 quốc gia trong báo cáo Chỉ số Cạnh tranh Toàn Cầu (Global Competitiveness Index) bởi Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum) năm 2017 – 2018. Trong số 12 yếu tố chính yếu để xếp hạng, Hàn Quốc đứng thứ 2 về môi trường kinh tế vĩ mô và thứ 8 về cơ sở hạ tầng, là hệ quả của các chính sách nhà nước xuyên suốt lịch sử. Tuy nhiên, báo cáo cũng cho thấy nền kinh tế vẫn có nhiều vấn đề về ổn định chính sách, tiếp cận tài chính và bộ máy chính quyền chưa thật sự hiệu quả. Các điều kiện tiêu cực này đều liên quan tới sự hạn chế trong việc giới hạn nhiệm kì tổng thống không thể tái đắc cử. Có lẽ đã đến lúc Hàn Quốc xem xét lại hiến pháp cho tầm nhìn dài hạn hơn.

  1. ‘Kì tích sông Hàn’ và các yếu tố chính

‘Kì tích sông Hàn’ được ghi nhận như là thành quả cho nỗ lực của người dân Hàn Quốc, với những tác động từ tầm nhìn, các quyết định và quyết tâm lớn lao. Trong khoảng ba thập kỉ, nền kinh tế Hàn Quốc đã tiến hóa từ một nền kinh tế nông nghiệp sang một nền kinh tế công nghiệp hiện đại, điều mà một quốc gia khác có thể phải mất cả thế kỉ để đạt được. Giai đoạn này mang tên dòng sông Hàn bởi các chuyển biến đáng kể hiện diện ở khu vực xung quanh Seoul thuộc thung lũng sông Hàn. Bước ngoặt của nền kinh tế Hàn Quốc được cho là ‘một trong những trường hợp cải cách kinh tế đáng chú ý nhất trong lịch sử hiện đại.’ (Ihm, 2015).

Có nhiều yếu tố góp phần tạo ra kì tích này. Tuy nhiên, bài viết chỉ nhấn mạnh bốn yếu tố: giáo dục, hoạch định chính sách, nguồn viện trợ nước ngoài và các chaebol quyền lực.

3.1. Giáo dục

Hàn Quốc chịu ảnh hưởng nặng nề từ Nho giáo. Các nguyên tắc của Nho giáo khiến người Hàn Quốc xem trọng việc học tập và đặt những người có học thức lên tầng lớp cao của xã hội. Đặc biệt đối với công cuộc tái xây dựng đất nước, Hàn Quốc rất cần một lực lượng lao động lành nghề. Chính quyền Park Chung Hee ghi nhận điều này và xếp nó như là nguyên tắc cơ bản cho quá trình phát triển kinh tế. Niềm mong ước bắt kịp các quốc gia công nghiệp hóa khác dẫn đến các nỗ lực để học hỏi, mô phỏng và cải thiện (Mathews and Cho, 2000).

Hệ thống giáo dục được mở rộng mạnh mẽ sau năm 1961: số học sinh tiểu học tăng gấp 4,1 lần so với 1945, số học sinh trung học cơ sở còn cao gấp 7 lần và đối với trung học phổ thông là khoảng 13 lần, giáo dục sau đại học cũng tăng trưởng vượt bậc với con số gấp 38 lần (McGinn, 1980). Cùng với số lượng học sinh – sinh viên tăng vọt, Hàn Quốc tiến hành chương trình giảm tỉ lệ mù chữ cho người lớn tuổi. Đến năm 1970, khoảng 88% số người trưởng thành ở Hàn Quốc biết đọc, cao gấp 4 lần năm 1945. Điều tuyệt vời nằm ở chỗ chính phủ không chỉ tập trung cải thiện số lượng mà còn là chất lượng của hệ thống giáo dục: tăng lương cho đội ngũ giáo viên, tổ chức các chương trình du học và nghiên cứu, đồng thời cải cách chương trình giảng dạy.

Chính phủ Hàn Quốc nhận thức rõ phương thức và mục đích cho khoản đầu tư về giáo dục, thứ sẽ trở thành vô nghĩa nếu không gắn liền với thực tế. Các trường đại học Hàn Quốc chú trọng đào tạo các kĩ sư và nhà quản lí (Amsden, 1992), hiện đang là nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế. Giáo dục được định hướng để hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế dựa trên sự hợp tác giữa nhiều tổ chức khác nhau về kinh tế và chính sách như Hội đồng Hoạch định Kinh tế (Economic Planning Board), Viện Phát triển Hàn Quốc (Korean Development Institute) và Viện Chính sách Kinh tế Quốc tế Hàn Quốc (Korean Institute for International Economic Policy), và về giáo dục như Viện Phát triển Giáo dục Hàn Quốc (Korean Educational Development Institute), và Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (Korea Institute of Science and Technology). Các tổ chức này thực hiện nhiều nhiệm vụ chuyên môn khác nhau để học hỏi được các kĩ thuật đương thời từ Nhật Bản và phương Tây, bao gồm các chương trình đào tạo quản lí và đưa chuyên gia nước ngoài về Hàn Quốc.

Ngoài ra, nền giáo dục Hàn Quốc cũng cho ra các sinh viên tốt nghiệp với những kĩ năng phù hợp với thị trường lao động. Việc tận dụng tối đa nguồn lực con người rất quan trọng, vì các ngành nghề mới xuất hiện sẽ đòi hỏi đội ngũ nhân công tương ứng. Chương trình dạy học ở các trường đại học được giám sát chặt chẽ để bắt kịp với nhịp độ phát triển của nền kinh tế. Chính quyền Park cho rằng lực lượng lao động có năng lực là yếu tố quan trọng để mang lại sự thành công cho chính sách phát triển các ngành công nghiệp nặng. Đến năm 1980, hơn một phần ba học sinh trung học cơ sở đã học nền tảng về kĩ thuật hoặc khoa học (Ashton, 1999). Tầm nhìn giáo dục đúng đắn đã cho ra nguồn nhân lực tài năng ở Hàn Quốc, cho phép nền kinh tế áp dụng các xu hướng toàn cầu cũng như tạo cơ sở cho các doanh nghiệp Hàn Quốc cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

3.2. Hoạch định chính sách

Nối tiếp phần 2 về mô hình ‘chính phủ kiến tạo’ ở Hàn Quốc giúp cho nền kinh tế tăng trưởng vượt bậc, phần này bài viết sẽ nhấn mạnh vào những nguyên tắc thực hiện các chính sách kinh tế trong quá trình phát triển thần kì này.

Cần phải nhấn mạnh rằng trong suốt hơn ba thập kỉ được cho là ‘kì tích’ của Hàn Quốc (1961 – 1997), gần hai thập kỉ đầu (1961 – 1979) đất nước Hàn Quốc có một chính quyền độc tài với những lãnh đạo xuất phát từ quân đội. Các chính phủ độc tài này đã thúc đẩy nền kinh tế dựa vào xuất khẩu với lợi thế về chi phí nhân công. Thêm vào đó, nhà nước cũng đặt các tiêu chuẩn sản xuất lên mức cao hơn để đưa hàng hóa Hàn Quốc lên tầm quốc tế và nắm giữ thị phần ổn định trên thị trường toàn cầu. Chính phủ cũng tuyển và hỗ trợ các nhà kĩ thuật để phát triển nền kinh tế. Điều này dẫn đến các chính sách công nghiệp hóa thành công, tăng trưởng năng suất lao động và các nghiên cứu kinh tế có giá trị. Một lí do khác cho các chính sách kinh tế hiệu quả nằm ở khía cạnh thể chế, khi một tổng thống chỉ được tại vị duy nhất một nhiệm kì. Điều luật này hối thúc các nhà lãnh đạo thực hiện các chính sách mang lại hiệu quả tức thời. Tuy nhiên, đây lại là một nghịch lí hơn là nền tảng cho sự tăng trưởng khi tổng thống tại nhiệm phải giải quyết hậu quả từ các chính sách của bộ máy tiền nhiệm.

Chính phủ đóng vai trò tiên quyết trong việc trong việc đưa ra quyết định cho quá trình phát triển kinh tế, bao gồm các hoạt động như lên kế hoạch, giám sát và đánh giá. Tổng thống Park Chung Hee trước tiên nhấn mạnh vai trò nhà nước trong các kế hoạch kinh tế, bắt đầu với các Kế hoạch 5 năm và Hội đồng Hoạch định Kinh tế (Economic Planning Board); các chính sách theo hướng xuất khẩu với sự kiểm soát chặt chẽ và sử dụng tín dụng để kích thích doanh thu xuất khẩu; cùng với quá trình đánh giá độ hiệu quả của các hoạt động kinh tế. Thông qua việc phân tích lịch sử, nghiên cứu hiện tại và xu hướng tương lai của thị trường toàn cầu, cũng như đánh giá độ hiệu quả của nền kinh tế Hàn Quốc, điều gì đang còn thiếu và đã đạt được, điều gì cần kiểm soát và phát triển, độ cạnh tranh trên trường quốc tế, đã cho phép các nhà hoạch định chính sách trước hết theo dõi tiến trình của nền kinh tế, sau đó đưa ra tầm nhìn chiến lược phù hợp.

3.3. Viện trợ nước ngoài

Sẽ là một thiếu sót lớn khi bỏ qua vai trò của viện trợ nước ngoài trong thời kì phát triển thần kì này. Chỉ riêng Mĩ đã đóng góp 12.3 tỉ đô la Mĩ từ năm 1945 đến năm 1976. Sự hiện diện của quân đội Mĩ ở Hàn Quốc đã giúp cắt giảm chi phí quân sự cho chính phủ. Trong những năm 1960, nguồn viện trợ tăng lên nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa. Chính phủ đã nắm quyền chủ động trong việc phân phối và sử dụng nguồn viện trợ, với mục tiêu hỗ trợ các chính sách đã ban hành và hướng tới mức sống cao hơn.

Trong những thập niên của ‘kì tích sông Hàn’ (từ thập niên 60 đến thập niên 90), tổng giá trị dòng vốn vào thị trường Hàn Quốc đạt khoảng 82 tỉ đô la Mĩ, trong đó chỉ có 26% đến từ khu vực công. Tỉ lệ dòng vốn công giảm theo thời gian khi khu vực tư nhân tăng trưởng mạnh. Tuy vậy, dòng vốn đầu tư công lại đóng vai trò quan trọng trong những ngày đầu xây dựng lại Hàn Quốc, nhằm thúc đẩy khu vực tư nhân và toàn bộ nền kinh tế.

Vào giai đoạn những năm 60 đến 70 thế kỉ trước, nguồn thu cũng như nguồn vốn đầu tư của chính phủ Hàn Quốc phụ thuộc rất nhiều vào viện trợ nước ngoài, bao gồm các khoản tài trợ và cho vay. Dòng vốn từ nước ngoài khỏa lấp khoảng trống thu chi do tỉ lệ tiết kiệm trong nước thấp. Ví dụ, vào năm 1974, trong khi tỉ lệ đầu tư trên GDP là 32%, tỉ lệ tiết kiệm chỉ đạt mức 21%. Chính phủ khỏa lấp khoảng cách 11% này thông qua việc sử dụng nguồn vốn nước ngoài, đặc biệt là các khoản vay thuộc danh mục Viện trợ Chính thức Khác (Other Official Assistance – OOA) (Kim, 2012).

Hầu như tất cả các khoản viện trợ nước ngoài đều được dùng vào cơ sở hạ tầng kinh tế và lĩnh vực sản xuất: trong khoảng 1962 – 1978, 73% các khoản vay phát triển công nhằm mục đích nâng cấp hạ tầng và khuyến khích sản xuất, tỉ lệ đó tăng lên 94% trong giai đoạn 1979 – 1992. Việc phân bố nguồn vốn như trên đã đóng góp cho sự thành công của quá trình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc.

Chính phủ Hàn Quốc đã sử dụng nguồn lực này hiệu quả thông qua quá trình theo dõi chặt chẽ các chương trình sử dụng nguồn đầu tư từ viện trợ. Chính phủ còn thành lập một ủy ban đặc biệt để quản lí các khoản tài trợ và vay nước ngoài, loại bỏ các chính sách đơn chiều và cung cấp các chương trình kiểm soát cũng như các dự án hiệu quả với mục đích thuần kinh tế.

3.4. Các tập đoàn chaebol

Để thực hiện bước chuyển biến từ nền sản xuất quy mô nhỏ đến một cường quốc công nghiệp toàn cầu, Hàn Quốc đã tận dụng các chaebol, một hệ thống các công ty tích hợp đặc biệt. Chaebol mang tính gia tộc sâu sắc, khi mà các thành viên trong gia đình quản lí các công ty ở các ngành nghề khác nhau, mà không bị ràng buộc bởi bất cứ quy định nào về việc nắm giữ đủ cổ phần. Để đạt được mục đích của các chính sách kinh tế, chính phủ Hàn Quốc giữ mối quan hệ chặt chẽ với các tập đoàn quyền lực này. Sự đóng góp từ các chaebol là rất quan trọng, khi 10 chaebol lớn nhất chiếm 23,4% GDP Hàn Quốc vào năm 1974. Tỉ lệ ấn tượng trên đã thu hút sự chú ý của chính phủ để cung cấp cứu trợ và ban hành các chính sách có lợi.

Ở chiều hướng ngược lại, sự phát triển của các chaebol có phần chủ yếu từ sự hỗ trợ của chính phủ, khi chính quyền nhận thấy tiềm năng của các tập đoàn này với quá trình phát triển kinh tế. Các chính sách mới giúp việc tiếp cận tín dụng dễ dàng hơn. Các chaebol nhanh chóng bắt kịp với nền kinh tế trọng thương và nhu cầu ở các thị trường khác nhau, dẫn đến thành công ngay từ những năm đầu. Những thành công này đã thuyết phục chính phủ Hàn Quốc duy trì tầm nhìn chính sách hiện tại để tiếp tục hỗ trợ các chaebol. Quá trình này dần trở thành hiệu ứng lăn cầu tuyết: chính phủ ban hành các điều luật có lợi cho chaebol, làm các tập đoàn này đạt được các kết quả tích cực và các thành quả này lại thúc đẩy việc ban hành các chính sách thuận lợi.

Các chaebol có những đặc điểm đặc biệt như sau. Thứ nhất, các thành viên cùng gia tộc sở hữu và điều hành công ty, điều này có nghĩa là các quản lí cấp cao có cung cách đối xử với nhau như giữa các thành viên trong gia đình. Vì vậy, các lãnh đạo của chaebol thường tham gia ứng cử cho những chức vụ chính trị, để góp phần đưa lại các bước đi chính trị có lợi cho toàn bộ gia tộc. Thứ hai, sự cạnh tranh giữa các chaebol rất khốc liệt trong toàn bộ ngành nghề. Sự cạnh tranh dữ dội kết hợp với các chính sách hỗ trợ từ chính phủ dẫn tới việc cải thiện năng suất lao động, chất lượng hàng hóa và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Hàn Quốc nói chung. Thứ ba, khi chính quyền Hàn Quốc tập trung quản lí các hoạt động kinh doanh, mối liên kết giữa chaebol và chính phủ rất chặt chẽ, và các tập đoàn này hoàn toàn tuân theo các kế hoạch kinh tế. Đặc điểm này chỉ có thể xuất hiện dưới thời kì của chính phủ độc tài, điều đã đi ngược lại với tư tưởng phổ biến thời bấy giờ khi nhấn mạnh tầm quan trọng của một nền kinh tế tự do. Trong giai đoạn phát triển thần kì, chính phủ Hàn Quốc đã vạch ra các kế hoạch phù hợp và xây dựng môi trường thích hợp cho toàn bộ nền kinh tế nói chung và các chaebol nói riêng. Thứ tư, ban điều hành các chaebol có nhiều nhà lãnh đạo tài năng với tầm nhìn kinh doanh hợp lí. Những lãnh đạo này đưa chaebol phát triển theo con đường đúng đắn, giúp cho các tập đoàn trở nên nổi tiếng và vĩ đại trên thị trường toàn cầu. Sự thành công của chaebol làm chúng trở nên cao quý trong xã hội Hàn Quốc, khi các tập đoàn này có chính sách lương thưởng hậu đãi, sự nghiệp lâu dài và địa vị xã hội cao quý.

  1. Mô hình phát triển của Hàn Quốc và bài học cho Việt Nam

4.1. Những yếu tố lịch sử khác biệt giữa hai nước

‘Kì tích sông Hàn’ là giấc mơ của bất kì quốc gia đang phát triển nào. Tuy vậy, việc áp dụng mô hình này không hề dễ dàng vì mỗi quốc gia có tầm nhìn chiến lược cũng như môi trường trong và ngoài nước khác nhau. Nhìn chung, Việt Nam và Hàn Quốc khá tương đồng về mặt lịch sử: đều bắt đầu tái thiết đất nước sau cuộc chiến tranh quy mô lớn, nhận được hỗ trợ lớn từ bạn bè quốc tế và sự phục hồi với tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Điều khiến Việt Nam khác biệt so với Hàn Quốc nằm ở việc Việt Nam thành công trong việc thống nhất đất nước, tiến hành cải cách trong môi trường quốc tế hoàn toàn khác và hệ tư tưởng đối lập dẫn tới những chú trọng khác nhau. Do đó, điều quan trọng nằm ở việc xác định những yếu tố nào trong cách tiếp cận của Hàn Quốc mà Việt Nam không thể áp dụng.

Một trong các yếu tố tiên quyết là tình hình kinh tế chính trị vào lúc công cuộc tái thiết của Việt Nam bắt đầu. Năm 1976, Việt Nam lần đầu tiên thực hiện các chính sách dưới một chỉnh thể đất nước thống nhất, trong điều kiện chênh lệch về cơ sở hạ tầng, mức độ đô thị hóa và trình độ học vấn giữa các vùng miền. Đây là những điều kiện vô cùng khó khăn để thiết lập các tiêu chuẩn chung cho nền kinh tế, cũng như thúc đẩy sự phục hồi kinh tế. Ngoài ra, sự bất ổn chính trị vẫn luôn rình rập đất nước. Hàn Quốc khi bắt đầu công cuộc tái xây dựng của mình, tuy không thể thống nhất đất nước, bù lại có được sự ổn định chính trị nhất định khi đặt dưới một chính phủ độc tài. Mức độ chênh lệch về cơ sở hạ tầng ở Hàn Quốc rất ít, khiến cho việc lập kế hoạch phát triển dễ dàng hơn.

Tình hình thế giới cũng là một nhân tố dẫn tới con đường khác biệt giữa hai nước. Vào năm 1976, thế giới vẫn còn đang phải hứng chịu hậu quả từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào năm 1973. Việt Nam phải trải qua tình trạng thiếu vốn để thúc đẩy kinh tế, dòng vốn chủ yếu dựa vào viện trợ từ khối các nước Cộng sản. Tuy vậy, sau khi Liên bang Xô Viết tan rã vào năm 1991, Việt Nam lâm vào khó khăn trước tình trạng bao vây cấm vận của phương Tây. Cho dù chương trình cải cách năm 1986 đã mở ra thời kì kinh tế mới, sự thiếu hụt thị trường và áp lực quốc tế đối với các quốc gia Cộng sản đã không thể giúp Việt Nam có được tốc độ phát triển kinh tế như mong đợi, thể hiện qua tốc độ phát triển hàng năm trong giai đoạn 1986 – 1993 trung bình là 5,83%. Sau khi Mĩ dỡ bỏ lệnh cấm vận vào năm 1994, Việt Nam mới có cơ hội tiếp cận và nhận được sự giúp đỡ từ các tổ chức quốc tế như (Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)). Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm đạt tới 8,97% trước khi Cuộc Khủng hoảng Tài chính Châu Á 1998 tới, làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế xuống 5,76% vào năm 1998 và 4,77% vào năm 1999 (World Bank Data, truy cập ngày 22 tháng 5, 2018). Việt Nam có ít thời gian hơn để tích lũy nguồn lực cho cuộc khủng hoảng kinh tế trong khi chính quyền vẫn phải đối phó với vấn đề bất bình đẳng ở nhiều khu vực.

Hệ tư tưởng cũng ảnh hưởng tới phương thức phản ứng của mỗi quốc gia trong lịch sử. Trong khi Hàn Quốc phát triển theo Chủ nghĩa Tư bản và công nhận tầm quan trọng của nền kinh tế thị trường ngay từ những ngày đầu, bất chấp sự tồn tại của chính phủ độc tài, Việt Nam lại không nhận ra điều tương tự cho đến năm 1986. Quan điểm này đã làm cho Việt Nam bỏ lỡ nhiều thời gian để tích lũy tài sản cho công cuộc phát triển đất nước, tính từ năm 1945. Sau khi thống nhất vào năm 1975, chính phủ Việt Nam đã không công nhận tài sản tích lũy được bởi chính quyền Miền Nam Việt Nam, đây là hệ quả từ những mâu thuẫn gay gắt kéo dài giữa Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa Tư bản. Ảnh hưởng của việc này là quá trình tích lũy tài sản quốc nội chậm lại trong suốt giai đoạn 1945 – 1986.

4.2. Các bài học cho Việt Nam

Việt Nam vẫn có nhiều điều để học từ mô hình phát triển của Hàn Quốc. Về giáo dục, Việt Nam nên thực hiện một hệ thống giáo dục cân bằng kĩ năng của một sinh viên tốt nghiệp đại học với nhu cầu của thị trường lao động. Cho dù Việt Nam đứng thứ 28 trong tổng số các nước có chi tiêu công về giáo dục nhiều nhất (World Bank Data, truy cập ngày 22 tháng Năm, 2018), tỉ lệ thất nghiệp trong số các sinh viên mới tốt nghiệp (7,43% so với trung bình cả nước 2,3% vào năm 2016) và tỉ lệ sinh viên có việc làm trái ngành học (khoảng 60%, năm 2017) vẫn đang là những vấn đề dai dẳng: không tận dụng tối đa lực lượng lao động mới cũng như các kiến thức giáo dục chuyên môn không được áp dụng, khiến cho năng suất lao động giảm sút. Chính phủ nên chú ý đến việc thay đổi giáo trình giảng dạy cũng như cập nhật các tiêu chuẩn đầu ra đại học. Hệ thống giáo dục nên được xây dựng dựa trên mục đích cân bằng nguồn cung và nhu cầu lực lượng lao động.

Quá trình tuyển dụng dựa trên các tiêu chí rõ ràng cũng góp phần xây dựng một chính phủ có đủ năng lực để hoạch định chính sách. Năm 1980, có đến 97% các quan chức cao cấp Hàn Quốc là sinh viên tốt nghiệp đại học và 83% trong số đó tốt nghiệp từ ba trường đại học quốc nội hàng đầu (Hwang, 1996). Việt Nam cũng nên đảm bảo điều kiện tối đa cho những con người tài năng tham gia xây dựng các chiến lược quốc gia. Các chính sách kinh tế nên được quyết định dựa trên các biện pháp đánh giá kĩ thuật; cùng với đó là việc đưa giới tri thức tinh hoa vào bộ máy chính quyền và áp dụng tri thức – phương thức kỹ trị.

Chính phủ cũng nên thay đổi để có được những con người giúp nắm bắt tình hình và xu hướng quốc tế. Ngoài ra, giữ chặt mối quan hệ với khu vực kinh doanh mang vai trò vô cùng quan trọng. Với việc chính quyền Việt Nam đã ghi nhận tầm quan trọng của khu vực tư nhân, các quy trình pháp lý cũng nên được tinh chỉnh để kiến tạo môi trường thuận lợi.

Việt Nam còn có thể học tập Hàn Quốc trong cách sử dụng nguồn hỗ trợ nước ngoài. Chính phủ nên đóng vai trò chủ động phân phối nguồn vốn dựa trên các mục tiêu quốc gia. Với một nền kinh tế dựa vào xuất khẩu, Việt Nam có thể học tập cách phân phối theo khu vực kinh tế, quản lý dòng vốn và giám sát các dự án thực hiện dựa trên nguồn vốn viện trợ. Là quốc gia đứng thứ 2 về tổng số vốn ODA và đứng thứ nhất về giá trị FDI tại Việt Nam, Hàn Quốc có thể chuyển giao kinh nghiệm của mình qua nhiều kênh khác nhau: các hội thảo, đề án nghiên cứu, quá trình chuyển giao công nghệ

  1. Kết luận

Hàn Quốc là một hình mẫu cho quá trình vươn lên một nền kinh tế lớn mạnh từ khu vực Thế giới Thứ ba của các nước đang phát triển. Bằng cách đánh giá lịch sử chính trị dọc theo quá trình phát triển kinh tế, chính phủ đã có vai trò quan trọng để định ra tầm nhìn cũng như ban hành các chính sách hợp lí. Dưới các nhiệm kì tổng thống khác nhau, Hàn Quốc vẫn giữ vững bước đà tăng trưởng bền vững và dần dần trở thành một trong những đối thủ cạnh tranh đáng gờm trên thị trường toàn cầu. Mô hình ‘chính phủ kiến tạo’ đã cho thấy cái nhìn cận cảnh cách mà người Hàn Quốc đạt được những thành quả kinh tế ấn tượng từ những yếu tố quan trọng: cải cách giáo dục, hoạch định của chính phủ, sử dụng hiệu quả viện trợ nước ngoài và tạo lập cũng như thúc đẩy các chaebol.

Việt Nam, với các điều kiện lịch sử khá tương đồng với Hàn Quốc, có thể rút ra được những bài học cho riêng mình. Mặc dù các yếu tố trong và ngoài nước ảnh hưởng khác nhau đến quá trình phát triển kinh tế, mô hình tăng trưởng của Hàn Quốc vẫn chứa đựng những bài học về hệ thống giáo dục, xây dựng một chính phủ có năng lực và cách sử dụng nguồn vốn nước ngoài một cách hiệu quả. Với mối quan hệ kinh tế sâu sắc ngày nay, Việt Nam và Hàn Quốc có nhiều kênh thông tin để chuyển giao công nghệ, tri thức và nguồn lực để hướng tới một tương lai toàn cầu hóa.

Nguyễn Trung Hiếu

Đại học Kyungdong, Hàn Quốc

CTV Nghiên cứu – Chương trình Nghiên cứu Kinh tế học mở rộng thuộc VEPR

Tài liệu tham khảo

Amsden, A. (1992). Asia’s next giant: South Korea and Late Industrialization. New York: Oxford University Press.

Ashton, D. (1999). Education and training for development in East Asia: The Political Economy of Skill Formation in East Asian Newly Industrialised Economies. London: Routledge.

Caporaso, J. and Levine, D. (1992). Theories of Political Economy. Cambridge University Press, p.181.

Evans, P., Rüschemeyer, D. and Skocpol, T. (1985). Bringing the state back in. Cambridge: Cambridge University Press.

Haggard, S. and Moon, C. (1990). Institutions and Economic Policy: Theory and a Korean Case Study. World Politics, 42(02), pp.210-237.

Hahm, S. and Lee, D. (2007). Consolidation of Democracy in South Korea: Evaluation of the Roh Moo Hyun Administration, 2003-2008. In: Annual Meeting of the American Political Science Association 2007. Chicago.

Hart-Landsberg, M. (1993). The Rush to Development: Economic Change and Political Struggle in South Korea. New York: Monthly Review Press.

Harvie, C. and Lee, H. (2003). Export-led Industrialisation and Growth: Korea‟s Economic Miracle, 1962-1989. Australian Economic History Review, 43(3), pp 256-286.

Heo, U., Jeon, H., Kim, H., and Kim, O. (2008), The Political Economy of South Korea: Economic Growth, Democratization, and Financial Crisis. Maryland Series in Contemporary Asian Studies. Vol. 2008.

Heo, U. and Kim, S. (2000). Financial Crisis in South Korea: Failure of the Government-Led Development Paradigm. Asian Survey, 40(3), pp.492-507.

Heo, U. and Woo, J. (2006). South Korea’s Experience with structural Reform: Lessons for other countries. Korean Social Science Journal, 33(1), p.12.

Ihm, C. (2015). South Korea’s Economic Development. The Social Studies, 79(4), pp.165-169.

Kim, K. (2013). Chaebols and Their Effect on Economic Growth in South Korea. Korean Social Sciences Review, 3(2).

Kim, J. (2012). Impact of Foreign Aid on Korea’s Development. Seoul: Ministry of Strategy and Finance and KDI School.

Kim, S. (2014). South Korea’s Policy Responses to Global Economic Crisis. In: First Middle East Conference on Global Business, Economics, Finance and Banking. Dubai.

Laurence, H. (1999). Financial System Reform and the Currency Crisis in East Asia. Asian Survey, 39(2), pp.348-373.

Lee, Y. (1997). The State, Society and Big Business in South Korea. London: Routledge Advances in Asia-Pacific Business.

Leipziger, D. (1997). Lessons from East Asia. University of Michigan Press.

Mathews, J. and Cho, D. (2000). Tiger Technology: The Creation of a Semiconductor Industry in East Asia. Cambridge: Cambridge University Press.

McGinn, N. (1980). Education and development in Korea. Cambridge: Harvard University Press.

Park, C. (1970). The country, the revolution, and I. Seoul: Hollym Corp.

Sig Choi, D., Michell, P. and Palihawadana, D. (2008). Exploring the components of success for the Korean chaebols. Journal of Business and Industrial Marketing, 23(5), pp.311-322.

Song, B., 2003. The Rise of the Korean Economy, New York: Oxford University Press.

Woo, J. (1991). Race to the Swift: State and Finance in Korean Industrialization. New York: Columbia University Press.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s