Noah Smith – Kinh tế học trở nên thực tế hơn bằng cách nào?

(Dịch từ nguyên bản tiếng Anh “Economics Gets Real – Bloomberg View  23 Jun 2015”)

“Nó đúng trong thực tế nhưng liệu nó có đúng trên lý thuyết không” Đây là câu nói đùa được áp dụng cho các nhà kinh tế học thường xuyên đến mức không người nào biết ai là người đầu tiên nói ra nó. Ý tưởng này phù hợp với mẫu các nhà kinh tế học coi mình là các triết gia bị ám ảnh bới lý thuyết không liên quan, lãng phí thời gian trong tranh cãi xem liệu điều gì xảy ra trong một thế giới nhân tạo do họ tự nghĩ ra, trong khi mọi thứ xung quanh họ ở thế giới thực lại diễn ra theo cách hoàn toàn khác.

Liệu các nhà kinh tế học kiểu này đã bao giờ đúng chưa, câu trả lời ngày nay chắc chắn là không. Các tài liệu thống kê đang thay thế những tài liệu lí thuyết trong các tài liệu kinh tế học, và các phương pháp sử dụng để biện giải nhân- quả đang trở nên ngày càng khoa học hơn. Động lực lớn là công nghệ thông tin, cái đã biến toàn thế giới trở thành phòng thí nghiệm của các nhà kinh tế học. Như vậy kinh tế học nói chung đang ngày càng trở thành một ngành khoa học và không còn giống như môn triết học nữa.

Ngày nay trong kinh tế học vĩ mô, là ngành nghiên cứu về chu kì kinh doanh và tăng trưởng dài hạn, sự thay đổi này diễn ra khó và chậm hơn rất nhiều. Lý do là trong vĩ mô chỉ có rất ít dữ liệu. Lịch sử diễn ra chỉ một lần, và rất khó để biết được tương lai sẽ giống với quá khứ ở mức độ nào. Tệ hơn nữa là không có nhiều dữ liệu ở ngoài đời – chúng ta chỉ mới chỉ làm tốt thống kê trong vòng gần một thế kỉ.

Như vậy nơi nào có ít dữ liệu thì chúng ta trông đợi lý thuyết sẽ phát triển để lấp đi khoảng trống này. Và thực tế là kinh tế vĩ mô là chủ đề tranh luận chính đối với luận cứ vĩnh cửu về việc liệu lý thuyết hay chứng cứ có vị trí dẫn dắt. Ed Prescott, Kinh tế gia nhận giải Nobel, đã từng tuyên bố hung hồn năm 1986 rằng lý thuyết đã “đi trước” về đo lường trong lí thuyết chu kì kinh doanh. Tuy nhiên sau khủng hoảng tài chính, đã có tiếng nói phản đối mạnh mẽ nhằm nâng tầm và đặt đúng vị trí của dữ liệu. Kinh tế gia Barry Eichengreen thuộc trường đại học California-Berkeley viết:

Trong khi những thành viên lớn tuổi hơn của giới kinh tế học tiếp tục tranh luận về những giá trị của các khuôn khổ phân tích cạnh tranh, các nhà kinh tế học trẻ tuổi hơn lại đang đưa ra những bằng chứng mới quan trọng xác minh về cách nền kinh tế hoạt động như thế nào… Những tiến triển này rốt cuộc đã dẫn tới những thay đổi rất lớn về kinh tế học vĩ mô. Cũng chỉ vài thập kỉ trước, phân tích thống kê chỉ có được các tập dữ liệu khá nhỏ và hạn chế. Để hoàn toàn chắc chắn, chúng ta vẫn cần những lí thuyết nhằm làm cho dữ liệu trở nên có ý nghĩa. Tuy nhiên ngày nay chúng ta có lí do để hy vọng rằng trong tương lai những kết luận của các nhà kinh tế học và tư vấn chính sách sẽ không chỉ dựa trên vẻ đẹp của những khuôn khổ đó mà còn bởi khả năng phù hợp với thực tế của những kết luận này.

Như một minh chứng về cách tiếp cận mới, ông dẫn ra một loạt những cố gắng sử dụng internet để thu thập các dữ liệu đầy đủ hơn, như Dự án hàng tỷ các loại giá của Học viện Công nghệ Massachusetts, nơi người ta thu được một thước đo về lạm phát chính xác hơn là chỉ số giá tiêu dùng. Ông cũng nói rằng các nhà nghiên cứu cũng đang đào sâu hơn các dữ liệu quá khứ và khảo sát kĩ hơn các cơ quan lập chính sách.

Tôi nghĩ rằng Eichengreen đã đúng khi nói rằng kinh tế vĩ mô đã đến lúc cần có cách mạng về thống kê cho chính mình. Nhưng tôi nghĩ cơn lũ dữ liệu còn rộng lớn hơn những gì ông đã nhận ra. Danh sách các nhà kinh tế học vĩ mô dũng cảm đang làm việc để lật mở những điều chưa biết ngày càng trở nên dài hơn mỗi ngày.

Chẳng hạn chúng ta hãy xem công việc của những ngôi sao đang lên Emi Nakamura và Jon Steinsson của Đại học Comlumbia. Cặp đôi năng động Nakamura và Steinsson đã quyết định khảo sát ý tưởng rằng “độ dính” (stickiness) của giá cả, là mức độ không có khả năng điều chỉnh của giá cả khi các điều kiện kinh tế vĩ mô thay đổi, là một yếu tố lớn gây ra suy thoái. Giá cả càng dính thì sự suy giảm tổng cầu sẽ tổn hại hơn cho nền kinh tế. Nakamura và Steinsson đã phát hiện ra rằng có rất nhiều loại giá không dính trong nền kinh tế tập trung ở một vài loại hàng hóa, như xăng dầu, hoặc kết quả của các đợt khuyến mại và chiết khấu tạm thời.

Nếu bạn giải thích về những mẫu giá cả như vậy, các mức giá chung trong nền kinh tế có vẻ dính hơn rất nhiều những gì các nhà kinh tế học trước đây từng nghĩ.. Điều đó có nghĩa là tổng cầu, là cái Paul Krugman luôn nói tới trong blog của mình, là một yếu tố quan trọng hơn nhiều những gì mà các nhà kinh tế học trước đây từng nghĩ. Nó cũng ngụ ý rằng các chính sách như nới lỏng tiền tệ và gói kích thích tài chính sẽ có hiệu lực trong việc ngăn chặn hiệu ứng dính của giá cả và đưa nền kinh tế ra khỏi suy thoái. Các nhóm kinh tế gia khác, sử dụng các phương pháp luận khác nhau, gần đây cũng đã tìm ra những mẫu tương tự. Những người phản đổi chính sách nới lỏng tiền tệ và gói kích thích tài chính sẽ phải đối diện với thực tế như vậy.

Một ví dụ khác là nghiên cứu của John Haltiwanger thuộc Đại học Maryland. Haltiwanger là người đi tiên phong trong việc sử dụng dữ liệu kinh tế vĩ mô để hiểu thấu kinh tế vĩ mô. Haltiwanger là người công bố rất nhiều. Chỉ trong một vài năm gần đây ông và nhóm nhỏ đồng tác giả của ông đã đào sâu dữ liệu để tìm ra những loại công ty nào thuê công nhân, tại sao ngành kinh doanh Mỹ kém năng động hơn trước đây, liệu quỹ chứng khoán tư nhân có cải thiện năng suất lao động và hàng loạt các câu hỏi khác đã cho biết lượng lớn thông tin về những gì thực tế đã xảy ra đối với nền kinh tế của chúng ta. Nghiên cứu của Haltiwanger đã làm nhòa đi ranh giới truyền thống giữa kinh tế vĩ mô và vi mô, và như vậy làm cho dữ liệu xác nhận những gì có thể đã bị các học giả lí thuyết kinh tế vĩ mô truyền thống bỏ qua khi chỉ tập trung vào những số liệu tổng hợp như tổng sản phẩm trong nước và tỷ lệ thất nghiệp.

Khi bạn so sánh công việc dữ liệu của các nhà kinh tế học như thế với những cố gắng chung của các nhà lí thuyết kinh tế vĩ mô, thì không khó để nhận ra rằng tiến bộ thực sự đã đạt được ở đâu. Giống như các phần khác của kinh tế học, kinh tế học vĩ mô đang chuyển một cách rõ ràng từ nguyên lí triết học và lí thuyết đi trước sang một ngành thực tế, trước hết dựa vào dữ liệu. Và đó là một điều tốt.

  • Noah Smith là giáo sư trợ giảng tài chính tại Đại học Stony Brook và là tác giả của nhiều công bố về tài chính và kinh doanh. Ông có blog cá nhân mang tên Noahpinion.
  • Người dịch từ nguyên bản tiếng Anh: Phan Văn Thanh

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s